THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 30 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0105.
- Pháp luật áp dụng: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Quyền tác giả theo pháp luật Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 3 B0105 quyen tac gia theo phap luat luat so huu tri tue viet nam 3](https://bunny-wp-pullzone-evwxkqab4s.b-cdn.net/wp-content/uploads/2024/02/B0105-quyen-tac-gia-theo-phap-luat-luat-so-huu-tri-tue-viet-nam-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC VIẾT TẮT | 2 |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 3 |
| 1. Lý do chọn đề tài | 3 |
| 2. Tình hình nghiên cứu | 3 |
| 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu | 4 |
| 4. Phương pháp nghiên cứu | 4 |
| 5. Kết cấu của đề tài | 4 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỘI DUNG QUYỀN TÁC GIẢ THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM | 5 |
| 1.1. Những quy định chung về nội dung quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam. | 5 |
| 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả | 5 |
| 1.1.2. Khái niệm về Sở hữu trí tuệ | 6 |
| 1.1.3. Đối tượng, chủ thể, nội dung quyền tác giả | 7 |
| 1.2. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả | 13 |
| 1.3. Hành vi xâm phạm nội dung quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam | 13 |
| 1.4. Các hành vi sử dụng không bị coi là xâm phạm | 15 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 | 17 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ BẤT CẬP, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TÁC GIẢ THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA VIỆT NAM. | 18 |
| 2.1. Thực trạng về quyền tác giả hiện nay | 18 |
| 2.1.1. Tại các nước có nền kinh tế phát triển | 18 |
| 2.1.2. Tại Việt Nam | 20 |
| 2.2. Những bất cập của quy định hiện hành liên quan đến quyền tác giả và giáo pháp hưởng hoàn thiện pháp luật. | 22 |
| 2.2.1. Về thuật ngữ “tác giả” và “đồng tác giả” | 22 |
| 2.2.2. Về thuật ngữ “chủ sở hữu quyền tác giả” | 23 |
| 2.2.3. Về quyền nhân thân trong quyền tác giả | 24 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 | 26 |
| KẾT LUẬN | 27 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 28 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, với sự bùng nổ thông tin và các phương tiện lưu trữ cũng như truyền tải, con người ngày càng có điều kiện thuận lợi để tiếp cận đến thông tin một cách nhanh chóng và dễ dàng. Đây là tiền để quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của mỗi quốc gia. Nhưng sự phát triển này cũng làm nảy sinh một số tranh chấp về sở hữu trí tuệ mà các quốc gia cũng đang hết sức quan tâm. Sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng đang trở thành vấn đề gắn với rất nhiều hoạt động của xã hội. Đặc biệt trong kỷ nguyên số và sự phát triển của các hình thức thư viện hiện đại, vấn đề sở hữu trí tuệ lại càng cần được quan tâm hơn bao giờ hết.
Nhận thấy đây là một đề tài còn tương đối mới mẻ và chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ nên em đã chọn đề tài: “Quyền tác giả theo pháp luật Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
+ Nguyễn Thu Hương (2016), “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet theo quy định của điều ước quốc tế và Pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ. Luận văn tập trung nghiên cứu quyền tác giả trên môi trường internet và tập trung vào lĩnh vực điện ảnh.
+ Trần Thu Trang (2010), “Nghiên cứu về Quyền tác giả trong hệ thống Luật sở hữu trí tuệ”, khoá luận tốt nghiệp, Đại học Quốc Gia Hà Nội. Bài viết đã khái quát nhất về hệ thống Luật SHTT và đặc biệt là khía cạnh về Quyền tác giả; đưa ra một số vấn đề liên quan của Quyền tác giả đến các thông tin trên Internet ngày nay.
+ Nguyễn Trọng Luận, “Luật sở hữu trí tuệ – Bất cập và hướng hoàn thiện”, Tạp chỉ Toả án nhân dân, số 1/2019. Bài viết chỉ ra một số hạn chế, bất cập về quyền tác giả trong các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành và từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là nội dung về quyền tác giả trong hệ thống Luật SHTT Việt Nam và đặc biệt là khía cạnh về Quyền tác giả; đưa ra một số vấn đề liên quan của Quyền tác giả.
Bài viết tập trung tìm hiểu về các khía cạnh cơ bản của Quyền tác giả trong hệ thống luật trên thế giới và tại Việt Nam như: đối tượng, chủ thể, nội dung và các hành vi xâm phạm Quyền tác giả; bám sát vào các quy định tại Luật SHTT của Việt Nam năm 2005, có sửa đổi, bổ sung.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đối với từng chương, tác giả đã vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để có thể phân tích, lý giải giúp người đọc hiểu rõ các vấn đề mà tác giả đưa ra, cụ như sau:
Phương pháp tổng hợp được sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 của đề tài với mục đích cung cấp đầy đủ nhưng có chọn lọc các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Phương pháp phân tích được sử dụng ở chương 2 của đề tài nhằm giải thích rõ quy định pháp luật hiện hành, đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 02 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về nội dung quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng và bất cập, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỘI DUNG QUYỀN TÁC GIẢ THEO PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM
1.1. Những quy định chung về nội dung quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả
1.1.1.1. Khái niệm quyền tác giả
Hiểu một cách đơn giản, quyền tác giả cho phép tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép bất hợp pháp. Quyền tác giả còn được gọi là tác quyền hay bản quyền.
Về khái niệm pháp lý, quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm quy định và bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
Từ khái niệm quyền tác giả, các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật dân sự quyền tác giả được thể hiện rõ. Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự này là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Khách thể hay đối tượng của quan hệ pháp luật dân sự này là các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật. Nội dung của quan hệ pháp luật dân về quyền tác giả là các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Quyền tác giả đã khuyến khích nhiều nhà văn, nghệ sĩ, nhà khoa học sáng tạo. Nói như vậy không có nghĩa là phải là một nhà văn danh tiếng, một nhạc sỹ nổi tiếng hay một đạo diễn chuyên nghiệp mới có quyền tác giả. Quyền tác giả xuất hiện không phụ thuộc vào nội dung hay chất lượng tác phẩm.
1.1.1.2. Đặc điểm quyền tác giả
Thứ nhất, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội dung sáng tạo. Mặt khác, nếu hình thức thể hiện của một ý tưởng trùng với nội dung của ý tưởng đó thì hình thức cũng không được bảo hộ. Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm, còn tác phẩm là sự hình thành một ý tưởng dưới một hình thức nhất định. Quyền tác giả được phát sinh kể từ khi tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức nhất định. Nói cách khác, căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật dân sự về quyền tác giả là các hành vi pháp lý. Điều này có nghĩa là cơ quan nhà nước sẽ không xem xét nội dung tác phẩm, và việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả chỉ có giá trị chứng cứ mà không có giá trị pháp lý như đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao chép, bắt chước tác phẩm khác. Điều đó không có nghĩa là ý tưởng của tác phẩm phải mới, mà có nghĩa là hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính tác giả sáng tạo ra. Như vậy, một tác phẩm muốn được bảo hộ phải do chính sức lao động trí óc của tác giả tạo ra.
1.1.2. Khái niệm về Sở hữu trí tuệ
Xét về góc độ lịch sử, SHTT không phải là khái niệm mới và tĩnh. Mặc dù không có định nghĩa chính thống và trực tiếp về SHTT, ta có thể định nghĩa quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy định bảo hộ. Quyền SHTT so với quyền sở hữu đối với các tài sản hữu hình khác có những yếu tố khác biệt cơ bản: Thứ nhất, sự khác biệt về chủ thể. Chủ thể quyền sở hữu tài sản là các cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, Nhà nước và các chủ thể khác có quyền sở hữu tài sản mà phần lớn không phụ thuộc vào việc tài sản đó có đăng ký quyền sở hữu hay không. Chủ thể của quyền SHTT là những người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, công trình và được thừa nhận là tác giả, đối với chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp là người được cấp văn bằng bảo hộ. Như vậy, chủ sở hữu các đối tượng thuộc quyền SHTT không thể là bất kì ai mà phải là người thỏa mãn các quy định của hệ thống pháp luật về SHTT. Thứ hai, sự khác biệt về khách thể. Khách thể của quyền sở hữu tài sản là vật chất hữu hình và các quyền tài sản luôn luôn xác định được bằng số lượng vật chất cụ thể. Nhưng khách thể của quyền SHTT là những sản phẩm vô hình, chúng chỉ được vật chất hóa khi con người áp dụng vào sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ. Tuy nhiên, sản phẩm trí tuệ cũng là một dạng của tài sản và cũng thuộc phạm vi quy định tại Điều 172 Bộ Luật Dân sự. Theo tính chất và đặc điểm của các sản phẩm trí tuệ thì các sản phẩm trí tuệ được pháp luật bảo hộ thuộc về tài sản vì chúng thuộc về các quyền tài sản của chủ văn bằng bảo hộ. Thứ ba, sự khác biệt về thời hạn. Đối với quyền sở hữu tài sản ngoài các đối tượng SHTT, pháp luật bảo hộ vô thời hạn và chỉ khi có các căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản thì quyền sở hữu của một chủ thể đối với tài sản chấm dứt. Trong các giao dịch chuyển giao vật và quyền sở hữu đối với vật thì quyền sở hữu tài sản lại được xác lập ở một chủ thể được chuyển giao, trừ trường hợp tài sản là vật bị tiêu hủy. Đối với quyền SHTT, pháp luật chỉ bảo hộ trong một thời hạn nhất định mà không bảo hộ quyền đó vĩnh viễn. Thứ tư, nội dung quyền SHTT và quyền sở hữu các tài sản khác cũng bao gồm ba quyền năng gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Tuy nhiên, chủ sở hữu tài sản là vật chất thi khi thực hiện các quyền năng trên không giống như chủ văn bằng bảo hộ thực hiện các quyền năng của mình đối với các sản phẩm trí tuệ. Các căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản không thuộc đối tượng SHTT cũng có sự khác biệt so với căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với các sản phẩm thuộc quyền SHTT.
Ngoài ra, một yếu tố khác biệt rất đặc thù giữa quyền sở hữu tài sản và quyền SHTT là tài sản thuộc SHTT là tài sản vô hình. Do vậy, nguy cơ bị xâm phạm là rất lớn và việc xác định thiệt hại cũng rất phức tạp. Quyền SHTT luôn bị đe dọa xâm phạm, có nguy cơ bị xâm phạm rất lớn và thường tập trung vào mặt hàng thương mại của các sản phẩm SHTT. Những hành vi xâm phạm đến quyền SHTT thưởng diễn ra, đặc biệt đối với nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[Tiểu luận 2024] Quyền tác giả theo pháp luật Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)