THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 47 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0051.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Thực trạng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo – những vấn đề lý luận và thực tiễn 3 thuc trang mang thai ho vi muc dich nhan dao nhung van de ly luan va thuc tien 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/thuc-trang-mang-thai-ho-vi-muc-dich-nhan-dao-nhung-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề tài | 1 |
| 2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu | 2 |
| 3. Kết cấu đề tài | 3 |
| CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO | 4 |
| 1.1. Khái niệm mang thai hộ | 4 |
| 1.2. Khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo | 4 |
| 1.3. Ý nghĩa mang thai hộ vì mục đích nhân đạo | 6 |
| 1.3.1. Ý nghĩa về mặt pháp lý | 6 |
| 1.3.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn xã hội | 7 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO CỦA VIỆT NAM | 9 |
| 2.1. Thực trạng về mang thai hộ trước và sau khi có luật thực định | 9 |
| 2.2. Điều kiện mang thai hộ | 12 |
| 2.2.1. Đối với bên nhờ mang thai hộ | 13 |
| 2.2.2. Đối với người mang thai hộ | 14 |
| 2.3. Trình tự và thủ tục mang thai hộ | 15 |
| 2.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình mang thai hộ vì mục đích nhân đạo | 18 |
| 2.4.1. Vấn đề về chi phí phải chi trả của bên nhờ mang thai hộ đối với bên được nhờ mang thai hộ | 19 |
| 2.4.2. Vấn đề thực hiện nghĩa vụ thăm khám của bên mang thai hộ và việc giao nhận con giữa các bên | 20 |
| 2.4.3. Vấn đề xác định thời điểm phát sinh quyền, nghĩa vụ cha, mẹ con | 23 |
| 2.4.4. Vấn đề hưởng chế độ thai sản đối với người phụ nữ mang thai hộ và người phụ nữ nhờ mang thai | 24 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG MANG THAI HỘ VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC LIÊN QUAN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI | 26 |
| 3.1. Thực trạng mang thai hộ của một số nước trên thế giới | 26 |
| 3.2. Các vấn đề khác liên quan đến mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và hệ quả pháp lý | 29 |
| 3.2.1. Về vấn đề đảm bảo quyền ly hôn của vợ chồng trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo | 30 |
| 3.2.2. Vấn đề về xác định cha mẹ trong giai đoạn thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo | 31 |
| CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM NHẰM CẢI THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO | 35 |
| 4.1. Giải pháp cải thiện pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo | 35 |
| 4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo | 37 |
| KẾT LUẬN | 40 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 42 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển không ngừng của nhân loại, quan hệ hôn nhân và gia đình được đánh giá là một trong những quan hệ xã hội mang tính chất phổ biến và bền vững nhất. Quan hệ hôn nhân được hiểu là quan hệ giữa người vợ và người chồng nhằm thực hiện một trong những chức năng cơ bản và quan trọng nhất đó chính là tái sản xuất ra con người – tái sản xuất ra sức lao động cho xã hội. Với một quốc gia mang nặng truyền thống Á Đông như Việt Nam, từ xa xưa, việc sinh con để nối dõi tông đường được xem là vấn đề quan trọng nhất và cũng là mục đích hàng đầu trong một cuộc hôn nhân. Đối với một cặp vợ chồng, không sinh được con dù là lý do nào thì cũng bị xem là tội lớn nhất. Do đó mới có câu “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”, nghĩa là tội bất hiếu có ba điều, thì trong đó không có con nối dõi chính là tội lớn nhất. Không những thế, việc không sinh được con còn ảnh hưởng rất nhiều đến hạnh phúc của mỗi gia đình, dẫn tới nhiều hậu quả pháp lý như ngoại tình, ly hôn, có con ngoài giá thú,…
Chính vì lẽ đó, việc sinh con là một điều tất yếu và tuân theo quy luật của tự nhiên nhằm tạo ra thế hệ trẻ để duy trì nòi giống. Bên cạnh đó, sinh con là vấn đề gắn với quyền làm cha, làm mẹ, là một trong những vấn đề thuộc về nhân quyền luôn được pháp luật tôn trọng, bảo vệ và được xem là “quyền chính đáng” của bất kỳ cá nhân nào. Quyền con người về hôn nhân và gia đình đã và đang được công nhận rộng rãi trên toàn thế giới như là một bộ phận cấu thành cơ bản nhất trong nhóm quyền con người về dân sự nói riêng, quyền con người nói chung. Ở Việt Nam, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”
Mặc dù vậy, thực tế cho thấy, không phải cá nhân nào cũng may mắn có thể thực hiện thiên chức làm cha, mẹ một cách tự nhiên như quy luật vốn có. Vì nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau, nhiều cặp vợ chồng đã không thể tự mình sinh con và thực hiện quyền thiêng liêng mà tạo hóa ban tặng cho con người. Theo kết quả thống kê, tỷ lệ vô sinh ở Việt Nam khá cao, chiếm khoảng 7,7%, tương đương với khoảng 1 triệu cặp vợ chồng hiếm muộn trong cả nước. Thêm vào đó, cuộc cách mạng công nghệ 4.0 bùng nổ dẫn đến ngành y học phát triển, đem đến hi vọng cho những cặp vợ chồng rơi vào hoàn cảnh kém may mắn nói trên cơ hội làm cha làm mẹ của những đứa con do chính họ sinh ra bằng sự can thiệp của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn và thực trạng pháp luật nói trên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được thông qua ngày 19/6/2014 và có hiệu lực ngày 1/1/2015 đã có nhiều thay đổi quan trọng. Trong đó, đáng quan tâm nhất là lần đầu tiên vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được pháp luật ghi nhận và cho phép thực hiện. Điều này đã mở ra hy vọng cho những cặp vợ chồng hiếm muộn, đã áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản khác nhau nhưng vẫn không thể có cơ hội được làm cha mẹ hợp pháp của những đứa con mang chính huyết thống của mình.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực nêu trên, việc Quốc hội thông qua quy định cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng có nhiều quan điểm, ý kiến trái chiều và còn nhiều rào cản, bất cập. Trong đó bao gồm tính thực thi của quy định này trong việc đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn, cơ chế để nhà nước quản lý tốt nhất, sự tồn tại của hoạt động mang thai hộ “chui” trên thực tế, các vấn đề liên quan đến định danh cha mẹ, quyền nhân thân và nhiều vấn đề khác liên quan. Nhận thấy được tính cấp thiết cũng như tầm quan trọng của vấn đề này, em quyết định chọn đề tài: “Thực trạng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo – những vấn đề lý luận và thực tiễn” để đi sâu nghiên cứu.
2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: (i) Làm rõ những cơ sở lý luận và tìm hiểu về ý nghĩa của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo dưới nhiều góc độ trong đó quan trọng nhất là trên phương diện đảm bảo tính nhân đạo, tôn trọng và bảo vệ quyền con người; (ii) Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo của pháp luật Việt Nam hiện hành và liên hệ với một số nước trên thế giới về lĩnh vực này, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong xây dựng và thực thi pháp luật; (iii) Trên cơ sở nghiên cứu, đề xuất những kiến nghị và giải pháp có tính khả thi nhằm cải thiện quy định của pháp luật điều chỉnh về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật về vấn đề này.
Phương pháp nghiên cứu: (i) Để đạt được mục đích trên, bài tiểu luận đã tổng hợp, thống nhất, đúc kết và mở rộng những kiến thức đã tích lũy trong suốt quá trình học tập, kết hợp giữa việc tổng hợp sách báo, tài liệu với việc đi sâu vào phân tích thực tiễn, tham khảo ý kiến, sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, xã hội học, thu thập số liệu thống kê, tổng hợp và so sánh, phân tích, đánh giá, kết hợp với các phương pháp tư duy logic, phương pháp phân tích số liệu và phương pháp biện chứng nhằm tìm ra hướng đi hợp lý và hiệu quả nhất; (ii) Các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh luật sẽ được sử dụng triệt để nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như các quy định của pháp luật hiện hành về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Đặc biệt, bài tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình và phương pháp thống kê để thực hiện việc đánh giá tình hình thực hiện vấn đề mang thai hộ hiện nay nhằm đưa ra cách nhìn khách quan về thực trạng thực hiện pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung bài tiểu luận gồm 4 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Chương 2: Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo của Việt Nam
Chương 3: Thực trạng mang thai hộ và các vấn đề khác liên quan của một số nước trên thế giới
Chương 4: Giải pháp cho Việt Nam nhằm cải thiện quy định của pháp luật điều chỉnh về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO
1.1. Khái niệm mang thai hộ
Mang thai hộ là quá trình mà một người phụ nữ mang và sinh con cho một cặp vợ chồng không thể thụ thai tự nhiên. Với tư cách là một quan hệ pháp luật, mang thai hộ là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện việc mang thai và sinh con giúp cho người khác được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Mang thai hộ là vấn đề không mới về mặt thực tiễn, thậm chí nó đã trở thành một phương tiện ngày càng phổ biến để xây dựng một gia đình ở nhiều nước trên thế giới trong những năm gần đây.
Thuật ngữ mang thai hộ (surrogacy) đã tồn tại từ rất lâu, nhưng việc mang thai hộ thật sự chỉ có thể thực hiện sau khi con người thực hiện thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Trong mang thai hộ di truyền (còn được gọi là mang thai hộ thẳng, truyền thống hoặc một phần), người mang thai hộ sử dụng trứng của chính mình và mang thai thông qua thụ tinh nhân tạo thường sử dụng tinh trùng của người cha dự định.
Trong thai hộ (còn được gọi là vật chủ hoặc mang thai hộ đầy đủ), người mang thai hộ phôi thai của cặp vợ chồng, hoặc phôi thai được tạo ra bằng cách sử dụng giao tử hiến tặng và mang thai bằng công nghệ IVF[1].
1.2. Khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Căn cứ vào khoản 22 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.”
Như vậy, có thể hiểu mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là biện pháp kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm từ noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để tạo phôi và nhờ người khác mang thai, sinh con giúp cho bên nhờ mang thai hộ.
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một vấn đề khá mới ở Việt Nam, do tính chất nhân đạo của quan hệ pháp luật này, pháp luật Việt Nam công nhận và cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nên đã được xã hội quan tâm và ủng hộ. Hệ thống pháp luật điều chỉnh vấn đề này mang tính nhân văn vì đã mở ra cánh cửa pháp lý, tạo cơ hội cho các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn không thể sinh con bằng các phương pháp hỗ trợ sinh sản hiện thực hóa nguyện vọng làm cha, làm mẹ – một trong những quyền “hợp pháp” của con người. Vấn đề này đã được ghi nhận lần đầu tiên trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 nhằm đảm bảo việc mang thai hộ được thực hiện trên thực tế.
Theo quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: “Vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 – 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai[2].”
Có thể hiểu, vô sinh là một bệnh của hệ thống sinh sản nam hoặc nữ được xác định bởi việc không mang thai sau 12 tháng trở lên quan hệ tình dục không được bảo vệ thường xuyên. Vô sinh có thể là nguyên phát hoặc thứ cấp. Vô sinh nguyên phát là khi một người mang thai chưa bao giờ đạt được, và vô sinh thứ phát là khi ít nhất một lần mang thai trước đó đã đạt được.
Căn cứ vào khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm.”
Nói cách khác, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản sử dụng công nghệ y tế hiện đại để can thiệp vào quá trình thụ thai của phụ nữ, mục đích giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh hoặc phụ nữ độc thân có thể thụ thai và sinh con theo ý muốn của mình. Công nghệ hỗ trợ sinh đẻ đã thể hiện sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, giúp giải quyết tình trạng vô sinh ở nam và nữ do ô nhiễm môi trường và các yếu tố khác, hậu quả của chiến tranh,… mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc và là niềm hi vọng cho nhiều gia đình Việt Nam và cả thế giới.
[1] Susan Imrie, The long-term experiences of surrogates: relationships and contact with surrogacy families in genetic and gestational surrogacy arrangements, https://www.rbmojournal.com/action/showPdf?pii=S1472-6483%2814%2900353-8 (truy cập ngày 15/01/2024).
[2] Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)