THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 26 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0177.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Thực trạng sử dụng ví điện ở Việt Nam hiện nay 2 B0177 thuc trang su dung vi dien o viet nam hien nay 2](https://bunny-wp-pullzone-evwxkqab4s.b-cdn.net/wp-content/uploads/2024/02/B0177-thuc-trang-su-dung-vi-dien-o-viet-nam-hien-nay-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| ĐẶT VẤN ĐỀ | 2 |
| CHƯƠNG I: CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU | 3 |
| 1.1. Cơ sở nghiên cứu thanh toán điện tử | 3 |
| 1.1.1. Cơ sở hạ tầng thanh toán điện tử | 3 |
| 1.1.2. Cơ sở pháp lý thanh toán điện tử | 3 |
| 1.2. Phương pháp nghiên cứu | 5 |
| 1.2.1. Nội dung nghiên cứu | 5 |
| 1.2.2. Phương pháp nghiên cứu | 5 |
| CHƯƠNG II: KHÁI QUÁT CHUNG | 6 |
| 2.1. Thanh toán | 6 |
| 2.1.1. Khái niệm | 6 |
| 2.1.2. Phương thức thanh toán | 6 |
| 2.2. Ví số (ví điện tử) | 6 |
| CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THẢO LUẬN | 8 |
| 3.1. Thực trạng ứng dụng hình thức thanh toán bằng ví điện tử tại Việt Nam | 8 |
| 3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển hình thức thanh toán ví điện tử tại Việt Nam | 8 |
| 3.1.2. Thực trạng sử dụng và giao dịch bằng ví điện tử tại Việt Nam | 10 |
| 3.2. Đánh giá chung về thực trạng thanh toán bằng hình thức ví điện tử ở Việt Nam hiện nay | 14 |
| 3.2.1. Ưu điểm | 14 |
| 3.2.2. Nhược điểm | 15 |
| 3.3. Một số giải pháp nhằm phát triển hình thức thanh toán bằng ví điện tử Việt Nam hiện nay | 18 |
| 3.4. Dự đoán về hình thức thanh toán ví điện tử trong tương lai | 19 |
| KẾT LUẬN | 21 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 23 |
LỜI MỞ ĐẦU
Theo triết học Mác-Lênin thì tất cả mọi sự vật, hiện tượng không đứng yên một chỗ mà luôn luôn vận động và phát triển. Chính vì thế mọi sự vật, hiện tượng xung quanh chúng ta đều thay đổi theo từng ngày, từng giờ, từng phút… Cái mới ra đời thay thế cho cái cũ, cái mới hoàn thiện hơn và phát triển hơn cái cũ. Trong quan hệ buôn bán, tiền là loại hàng hóa đặc biệt tồn tại trong lưu thông, trong lao động sản xuất, cũng như trong việc buôn bán hàng hóa. Vì thế cho nên tiền đóng vai trò rất quan trọng và vô cùng đặc biệt với đời sống của mỗi con người. Từ đó ta có thể nói, tiền là một loại vật chất cho nên nó sẽ không đứng yên một chỗ mà luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển. Từ xưa, tiền đã xuất hiện, nó là những mảnh giấy màu xanh màu đỏ, con người dùng nó để lưu thông để trao đổi hàng hóa. Nhưng ngày nay, xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống con người ngày càng đi lên, công nghệ khoa học kĩ thuật hiện đại và thời kỳ đổi mới của các quốc gia trên thế giới thì tình hình thanh toán bằng ví điện tử thay cho việc thanh toán bằng tiền mặt ở mọi nơi trên thế giới đang phát triển rất mạnh và đang được nâng cao. Nhóm em chọn đề tài “Thực trạng sử dụng ví điện ở Việt Nam hiện nay”. Qua đó, nghiên cứu đi sâu vào làm rõ tồn tại, hạn chế và những yếu tố làm cản trở sự phát triển hình thức thanh toán ví điện tử trong thời gian tới.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo như Worldpay 2017, thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành phương thức thanh toán ở nhiều quốc gia phát triển trên thế giới với số lượng giao dịch tăng trưởng cao nhất trong thập kỷ qua. Hầu hết các nước đã và đang triển khai công cuộc cải cách hệ thống thanh toán hiện đại, đáp ứng nhu cầu thanh toán của người dân ngày càng được nâng cao. Thanh toán không dùng tiền mặt là xu hướng trên toàn thế giới và đang được đông đảo người dân Việt Nam lựa chọn thay cho hình thức chi trả tiền mặt thông thường. Phương tiện thanh toán điện tử đã giúp người dân linh hoạt hơn trong giao dịch, an toàn trong chi trả. Ví điện tử là một dịch vụ mới phát triển trên thế giới, là giải pháp thanh toán không dùng tiền mặt khá thông minh hiện nay. Tại Việt Nam, thanh toán điện tử ra đời năm 2008 với mô hình đầu tiên là ví điện tử. Hiện nay có nhiều doanh nghiệp khai thác mô hình ví điện tử nhưng theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước, hiện chỉ có 9 doanh nghiệp như: Payoo, MoMo, Mobivi, Ngân Lượng… được cấp phép thử nghiệm loại hình dịch vụ này.Hơn 90% giao dịch thanh toán ở Việt Nam là thanh toán bằng tiền mặt và khách hàng, người tiêu dùng thích COD (Cash On Delivery: Trả tiền mặt khi nhận hàng) hơn thanh toán trực tuyến. Tuy nhiên, thay đổi hành vi thanh toán của người tiêu dùng và các chính sách mới, cũng như sự khuyến khích gần đây của chính phủ để tăng giao dịch không bằng tiền mặt là những yếu tố thúc đẩy các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử.
Trong năm 2010, Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức Tín dụng tại Việt Nam đã bổ sung thêm một số quy định cập nhật để đáp ứng sự thay đổi xu hướng hành vi thanh toán. Ngoài ra, các quy định khác có liên quan như Luật Giao dịch Điện tử, Luật Phòng chống rửa tiền… cũng góp phần xây dựng hệ thống pháp luật giai đoạn một cho dịch vụ thanh toán điện tử an toàn và hiệu quả. Ngân hàng Nhà nước đã xây dựng và trình Thủ tướng ký ban hành Quyết định số 2545/QĐ-TTG phê duyệt đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020….
CHƯƠNG I: CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở nghiên cứu thanh toán điện tử
1.1.1. Cơ sở hạ tầng thanh toán điện tử
– Đến nay, đã có 53 tổ chức phát hành và thanh toán thẻ, số lượng thẻ cũng được các ngân hàng quan tâm phát triển và tăng trưởng đều qua các năm. Đặc biệt, Smartlink và Banknetvn sáp nhập thành Công ty Cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (Napas) đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối, chuyển mạch thẻ tại Việt Nam, tạo nền tảng kỹ thuật cho việc phát triển thanh toán bằng ví điện tử.
– Internet và thiết bị điện tử đóng vai trò quan trọng trong quá trình mua hàng của người tiêu dùng. Tính đến nay, Việt Nam có hơn 120 triệu thuê bao di động, 95% sử dụng smartphone cho việc nghiên cứu sản phẩm, dịch vụ trước khi đưa ra quyết định mua hàng và 60% đã từng mua hàng trực tuyến thông qua smartphone. Điều này cho thấy, phương thức thương mại truyền thống cần có sự chuyển dịch, thích ứng với quá trình mua hàng mới hiện nay của người tiêu dùng.
– Cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ thanh toán điện tử, thanh toán thẻ tiếp tục được chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng với vai trò là hệ thống thanh toán xương sống của nền kinh tế, tính đến cuối năm 2016 đã kết nối được với 322 đơn vị thành viên, gồm 64 đơn vị thành viên thuộc Ngân hàng Nhà nước, 258 đơn vị thành viên thuộc 99 tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Các giao dịch thanh toán đã chuyển dần sang phương thức xử lý tự động, sử dụng chứng từ điện tử, đến việc các giao dịch thanh toán được xử lý điện tử chiếm tỷ trọng lớn, thời gian xử lý hoàn tất một giao dịch được rút ngắn xuống còn vài phút, thậm chí chỉ trong vòng vài giây hoặc tức thời.
1.1.2. Cơ sở pháp lý thanh toán điện tử
– Cho đến nay, chưa có một văn bản pháp lý riêng quy định đầy đủ về quy trình cung ứng các dịch vụ ngân hàng điện tử, tiền điện tử để tạo dựng khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, thống nhất cho việc ứng dụng công nghệ thanh toán điện tử trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam.
– Căn cứ vào Luật các Tổ chức tín dụng và Luật Ngân hàng Nhà nước, Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về Thanh toán không dùng tiền mặt (Nghị định 101) đã đưa ra các quy định mang tính khuôn khổ về các dịch vụ trung gian thanh toán và điều kiện cung ứng dịch vụ cũng như quy trình, thủ tục, hồ sơ cấp, thu hồi và cấp lại Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tại Điều 5.3; Điều 15 và Điều 16. Để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 101, các Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước như Thông tư số 23/2014/TT-NHNN ngày 19/8/2014 về Hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCCUDVTT) (Thông tư 23), Thông tư số 39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014 hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán (Thông tư 39) và Thông tư số 46/2014/TT-NHNN ngày 31/12/2014 hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (Thông tư 46) đưa ra quy định về điều kiện khuôn khổ mang tính nguyên tắc chung, đã tạo ra hành lang pháp lý cơ bản, quan trọng cho các TCCUDVTT khi cung ứng dịch vụ thanh toán giao dịch bằng phương tiện điện tử ở Việt Nam.
– Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021, trong đó đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh thanh toán điện tử. Một trong các giải pháp tại Nghị quyết của Chính phủ là yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu tất cả các trường học, bệnh viện và nhà cung cấp điện, nước, vệ sinh, viễn thông và bưu chính ở khu vực thành thị phối hợp với các ngân hàng và tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để thu phí và thanh toán cho các dịch vụ của họ bằng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, ưu tiên giải pháp thanh toán trên thiết bị di động, thanh toán qua thiết bị chấp nhận thẻ và hoàn thành trước tháng 12/2019. Trong lĩnh vực ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng được Chính phủ giao nhiệm vụ nghiên cứu các giải pháp và phương án cho phép nạp tiền mặt vào Ví điện tử không qua tài khoản thanh toán tại ngân hàng.
– Thông tư 39 hướng dẫn chung về dịch vụ trung gian thanh toán bao gồm dịch vụ cung ứng hạ tầng thanh toán điện tử (chuyển mạch tài chính, bù trừ điện tử, cổng thanh toán điện tử) và dịch vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán (hỗ trợ thu hộ, chi hộ; hỗ trợ chuyển tiền điện tử và ví điện tử); đồng thời, cũng đưa ra các quy định về quyền và trách nhiệm của các bên liên quan.
1.2. Phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Nội dung nghiên cứu
– Thực trạng ứng dụng hình thức thanh toán bằng ví điện tử tại Việt Nam.
– Giải pháp nhằm phát triển hình thức thanh toán bằng ví điện tử tại Việt Nam.
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp thu thập số liệu: Sử dụng phương pháp kế thừa để thu thập số liệu thứ cấp là các báo cáo về tình hình sử dụng và thanh toán qua ví điện tử ở Việt Nam như: báo cáo world payment reports 2017; báo cáo EBI 2017; số liệu thống kê của 25 tổ chức không phải ngân hàng được NHNN cấp giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán… website của một số cổng thanh toán điện tử tại Việt Nam.
– Phương pháp xử lý, phân tích số liệu:
+ Phương pháp thống kê mô tả: sử dụng phương pháp này để nêu lên mức độ của hiện tượng, phân tích biến động của các hiện tượng và mối quan hệ giữa các hiện tượng với nhau. Phương pháp này được sử dụng để mô tả quá trình hình thành và phát triển, thực trạng sử dụng và giao dịch bằng hình thức ví điện tử tại Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2017.
+ Phương pháp thống kê so sánh: Dùng phương pháp này để so sánh biểu phí nạp tiền, rút tiền, các kênh chuyển tiền và thanh toán bằng các ví của các doanh nghiệp cung cấp ví điện tử hiện nay.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[Tiểu luận 2022] Thực trạng sử dụng ví điện ở Việt Nam hiện nay
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)