THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 32 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0094.
- Văn bản áp dụng: Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012).
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Tìm hiểu thủ tục thành lập tổ chức hành nghề luật sư 2 tim hieu thu tuc thanh lap to chuc hanh nghe luat su 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/tim-hieu-thu-tuc-thanh-lap-to-chuc-hanh-nghe-luat-su-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ | 3 |
| 1.1. Khái niệm luật sư, Hành nghề luật sư và Tổ chức hành nghề luật sư | 3 |
| 1.1.1. Khái niệm luật sư | 3 |
| 1.1.2. Khái niệm về hành nghề luật sư | 3 |
| 1.1.3. Khái niệm về tổ chức hành nghề Luật sư | 4 |
| 1.2. Đặc điểm tổ chức hành nghề luật sư. | 4 |
| CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VIỆC THÀNH LẬP TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ | 7 |
| 2.1. Điều kiện để thành lập tổ chức hành nghề luật sư | 7 |
| 2.2. Hình thức tổ chức hành nghề Luật sư | 9 |
| 2.2.1. Văn phòng luật sư | 9 |
| 2.2.2. Công ty luật | 12 |
| 2.2.3. Quyền và nghĩa vụ của văn phòng luật sư, công ty luật | 14 |
| 2.2.4. Hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi giữa các hình thức tổ chức hành nghề luật sư | 15 |
| 2.3. Thủ tục đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư | 16 |
| Chương 3: THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THÀNH LẬP CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ | 20 |
| 3.1. Hoạt động của các tổ chức hành nghề Luật sư | 20 |
| 3.2. Một số khó khăn trong việc áp dụng các quy định để thành lập Tổ chức hành nghề luật sư hiện nay | 22 |
| 3.3. Một số kiến nghị và giải pháp khắc phục trong việc áp dụng các quy định để thành lập tổ chức hành nghề luật sư hiện nay | 24 |
| KẾT LUẬN | 28 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 29 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Với sự ra đời Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), viết tắt Luật Luật sư năm 2012 đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho hoạt động hành nghề của các luật sư nhằm góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, thúc đầy phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời, đội ngũ luật sư Việt Nam còn là bộ phận xã hội phản biện các dự thảo luật, quy định, chính sách của Nhà nước, giúp phục vụ tốt hơn cho lợi ích của nhân dân và Nhà nước, nên ngày càng được xã hội tôn trọng và đánh giá cao vai trò của họ. Tổ chức hành nghề luật sư với tư cách là một loại hình doanh nghiệp, hoạt động trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ nghề nghiệp đáp ứng các điều kiện chung và được thành lập doanh nghiệp theo pháp luật Doanh Nghiệp. Để có thể sớm đạt mục tiêu phát triển các tổ chức hành nghề luật sư cũng như đội ngũ luật sư đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng thì việc pháp luật Việt Nam đã có những hướng dẫn về thủ tục giúp cho việc hoàn thiện các tổ chức hành nghề luật sư ngày càng phát triển hơn góp phẩn tạo nên công lý cho pháp luật Việt Nam.
2. Mục đích – yêu cầu
Mục đích của chúng em khi chọn đề tài này dựa trên cơ sở phân tích thủ tục thành lập tổ chức hành nghề luật sư.
Yêu cầu:
Về lý luận thực tiễn: Phải chủ động nắm bắt, phân tích, đánh giá, khái quát nội dung của từng vấn đề của đề tài, trên cơ sở đó lựa chọn những “điểm nhấn”, nội dung trọng tâm để có sự liên hệ, đưa kiến thức thực tiễn vào bài luận sao cho phù hợp đầy đủ thông tin mà vẫn đảm bảo yêu cầu về thời gian thuyết trình theo đúng như bố cục của bài báo cáo.
Vận dụng vào thực tiễn: Qua nội dung liên hệ thực tiễn nhằm chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu của pháp luật về thủ tục thành lập tổ chức hành nghề luật sư.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là khái niệm, điều kiện, hình thức, thủ tục của thủ tục thành lập tổ chức hành nghề luật sư.
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là phương pháp phân tích và tổng hợp để xây dựng thành một hệ thống khái niệm, tìm ra các cấu trúc phù hợp nhằm phát triển bài luận theo đúng hướng; phương pháp phân tích lý thuyết, phân tích nguồn tài liệu giúp tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về chủ đề nghiên cứu. Ngoài ra còn có phương pháp thống kê và vụ việc điển hình; phương pháp phân loại và hệ thống hoá; phương pháp logic; phương pháp diễn giải.
5. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận về đề tài trên giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012).
6. Kết quả nghiên cứu
Tiểu luận là kết quả của nghiên cứu, phân tích, làm sáng tỏ một cách tương đối toàn diện về quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục thành lập tổ chức hành nghề luật sư, cũng như những ưu điểm, hạn chế, kiến nghị cho tổ chức hành nghề luật sư hiện nay.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
1.1. Khái niệm luật sư, Hành nghề luật sư và Tổ chức hành nghề luật sư
1.1.1. Khái niệm luật sư
Theo cách giải thích của nhiều từ điển và qua tìm hiểu thực tiễn của một số nước, có thể hiểu như sau:
Lawyer là luật sư bào chữa tại toà, Solicitor là luật sư tư vấn được đào tạo về kỹ năng hành nghề, được gia nhập Đoàn luật sư, qua đó được công nhân là luật sư hành nghề chuyên nghiệp trong lĩnh vực tranh tụng và tư vấn hoặc một trong hai lĩnh vực này.
Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 2 của Luật Luật sư, “Luật sư” là người có đủ tiêu chuẩn luật sư, điều kiện hành nghề luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi chung là khách hàng). Điều kiện hành nghề luật sư là được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư.
Để được công nhân là Luật sư thì người đó phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn về hành nghề Luật sư theo quy định của pháp luật. Luật sư có nghĩa vụ làm những việc theo chuyên môn, nghề nghiệp của mình theo luật định.
Khi Luật sư hoạt động nghề nghiệp sẽ góp phần bảo vệ công lý, đảm bảo quyền tự do – dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Đồng thời hoạt động nghề nghiệp của Luật sư còn góp phần phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền, xã hội dân chủ – công bằng – văn minh.
1.1.2. Khái niệm về hành nghề luật sư
Hành nghề là làm công việc phải tiến hành hàng ngày để sinh sống. Hành nghề luật sư là việc luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng như tư vấn pháp luật, soạn thảo văn bản, tổ chức đàm phán, thương lượng về các vấn đề pháp luật và có thể đại diện cho thân chủ hoặc bào chữa, bảo vệ quyền lợi của khách hàng trước Tòa án trong quá trình tiến hành tố tụng, luật sư được nhận thù lao, chi phí do khách hàng chi trả để sinh sống. Tuy nhiên, theo Luật Luật sư hiện hành, hành nghề với tư cách cá nhân chỉ là một hình thức hành nghề của luật sư, trong đó luật sư không hành nghề chuyên nghiệp trong tổ chức hành nghề mà cung cấp dịch vụ pháp lý cá nhân cho cơ quan, tổ chức theo hợp đồng lao động ký kết với các cơ, quan tổ chức đó.
Như vậy, có thể thấy dưới góc độ nghề nghiệp luật sư, hành nghề luật sư được hiểu là: Tổ chức hành nghề luật sư và luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng còn khách hàng phải trả thù lao và chi phí cho luật sư, tổ chức hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
1.1.3. Khái niệm về tổ chức hành nghề Luật sư
Tổ chức hành nghề Luật sư là một tổ chức kinh doanh đặc biệt, được tổ chức và hoạt động riêng theo quy định của luật Luật sư 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012.
Hiện nay tổ chức hành nghề luật sư gồm có: Văn phòng luật sư và Công ty luật.
Trong đó, công ty luật bao gồm công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
1.2. Đặc điểm tổ chức hành nghề luật sư.
Thứ nhất, tổ chức hành nghề luật sư là một loại hình kinh doanh đặc biệt có tổ chức và hoạt động riêng theo quy định của Luật Luật sư 2006, sửa đổi, bổ sung 2012. Tổ chức hành nghề luật sư được hình thành bởi một hoặc nhiều luật sư để tham gia hành nghề luật.
Thứ hai, một tổ chức hành nghề luật sư bao gồm văn phòng luật sư và công ty luật hoạt động có tổ chức theo luật này. Trong đó công ty luật bao gồm công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Văn phòng luật sư do đích thân một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân.
Thứ ba, để đăng ký hoạt động tổ chức hành nghề luật sư thì tổ chức phải đăng ký tại Sở tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư mà Trưởng văn phòng luật sư hoặc Giám đốc công ty luật là thành viên. Khi được cấp phép giấy đăng ký hoạt động thì tổ chức này được hoạt động kể từ ngày cấp.
Thứ tư, chủ sở hữu văn phòng luật sư và chủ sở hữu công ty luật hoặc thành viên công ty phải là luật sư đáp ứng các quy định về năng lực hành vi dân sự, về trình độ năng lực, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp. Tiêu chuẩn này được quy định trong luật hoặc trong các văn bản của Hiệp hội luật sư toàn quốc tùy theo quy định của mỗi nước. Ở các quốc gia việc quản lý hành nghề luật sư có mức độ xã hội hóa cao thì các tiêu chuẩn, điều kiện luật sư được tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư do các Hiệp hội luật sư quốc gia hoặc từng địa phương quy định. Ở Việt Nam thì do pháp luật quy định, ví dụ theo luật chuyên ngành về luật sư của Việt Nam thì: Luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất 02 (hai) năm hành nghề liên tục (Điều 32).
Thứ năm, cơ cấu tổ chức của văn phòng Luật sư và công ty luật khác với các tổ chức nghề nghiệp khác. Văn phòng Luật sư và công ty luật tổ chức theo hình thức đối vốn hoặc kết hợp giữa đối vốn với đối nhân có tư cách pháp nhân. Các thành viên sáng lập văn phòng luật sư hoặc công ty luật thỏa thuận cử một thành viên làm Trưởng văn phòng/Giám đốc. Trong trường hợp văn phòng Luật sư chỉ có một luật sư là chủ sở hữu (theo Điều 33 Luật luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012) thì chủ sở hữu văn phòng Luật sư là Trưởng văn phòng; Luật sư chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên là Giám đốc công ty.
Thứ sáu, tổ chức hành nghề luật sư không có cơ quan chủ quản. Luật sư hoạt động độc lập hoặc liên kết với nhau theo những hình thức tổ chức được quy định với điều kiện cơ bản là việc hành nghề phải được đăng ký phù hợp với những điều kiện và thủ tục chặt chẽ theo luật định. Luật sư hoạt động độc lập, tự chịu trách nhiệm cá nhân ngay cả khi tham gia dưới những hình thức tổ chức hành nghề cụ thể. Nghề luật sư là nghề không chịu sự chi phối của sự can thiệp bằng quyền lực mà chỉ tuân theo những gì pháp luật quy định. Do vậy có thể nói, tổ chức hành nghề luật sư không có cơ quan chủ quản và không chịu sự quản lý hành chính trực thuộc từ phía cơ quan nhà nước hay Hiệp hội luật sư.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)