• Trang chủ
  • Tiểu luận miễn phí
  • Bảng phí viết mới tiểu luận
  • Liên hệ Facebook

Tiểu Luận Ngành Luật

Chuyên trang tiểu luận, khóa luận, luận văn ngành luật

  • Hướng dẫn tải TÀI LIỆU
You are here: Home / Tiểu luận / [Tiểu luận 2024] Tội đe dọa giết người trong Bộ luật hình sự Việt Nam

[Tiểu luận 2024] Tội đe dọa giết người trong Bộ luật hình sự Việt Nam

Ngày đăng: 29/02/2024 Người đăng: Phạm Văn Thành

Mục lục:

Toggle
  • THÔNG TIN TIỂU LUẬN
  • XEM TRƯỚC NỘI DUNG
  • MỤC LỤC TIỂU LUẬN
  • LỜI MỞ ĐẦU
    • 1. Lý do chọn đề tài
    • 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
      • 2.1. Mục đích nghiên cứu
      • 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
    • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
    • 4. Phương pháp nghiên cứu
    • 5. Kết cấu đề tài
  • CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI ĐE DỌA GIẾT NGƯỜI
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc quy định tội đe dọa giết người
      • 1.1.1. Khái niệm tội đe dọa giết người
      • 1.1.2. Đặc điểm tội đe dọa giết người – Phần này chưa chuẩn xãc
      • 1.1.3. Ý nghĩa của việc quy định tội đe dọa giết người
    • 1.2. Khái quát lịch sử hình thành tội đe dọa giết người
      • 1.2.1. Từ năm 1945 đến năm 1985
      • 1.2.2. Bộ luật Hình sự năm 1985
  • TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
  • TẢI VỀ

THÔNG TIN TIỂU LUẬN

  • Trường: Đại học Luật Hà Nội
  • Định dạng: WORD
  • Số trang: 34 trang (cả bìa)
  • Năm: 2024 / Mã số: B0085.
  • Văn bản áp dụng: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

XEM TRƯỚC NỘI DUNG

toi de doa giet nguoi theo luat hinh su viet nam 1 toi de doa giet nguoi theo luat hinh su viet nam 2 toi de doa giet nguoi theo luat hinh su viet nam 3

MỤC LỤC TIỂU LUẬN

MỤC LỤCTrang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU1
1. Lý do chọn đề tài1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu2
2.1. Mục đích nghiên cứu2
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu3
4. Phương pháp nghiên cứu3
5. Kết cấu đề tài4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI ĐE DỌA GIẾT NGƯỜI6
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc quy định tội đe dọa giết người6
1.1.1. Khái niệm tội đe dọa giết người6
1.1.2. Đặc điểm tội đe dọa giết người - Phần này chưa chuẩn xãc6
1.1.3. Ý nghĩa của việc quy định tội đe dọa giết người7
1.2. Khái quát lịch sử hình thành tội đe dọa giết người8
1.2.1. Từ năm 1945 đến năm 19858
1.2.2. Bộ luật Hình sự năm 19859
1.2.3. Bộ luật Hình sự năm 199910
1.3. Quy định tội đe dọa giết người trong luật hình sự của một số quốc gia12
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ TỘI ĐE DỌA GIẾT NGƯỜI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017)14
2.1. Dấu hiệu pháp lý của tội đe dọa giết người14
2.1.1. Khách thể của tội phạm14
2.1.2. Mặt khách quan của tội phạm14
2.1.3. Chủ thể của tội phạm15
2.1.4. Mặt chủ quan của tội phạm15
2.2. Các dấu hiệu định khung tăng nặng của tội đe dọa giết người15
2.2.1. Đối với từ 02 người trở lên15
2.2.2 Lợi dụng chức vụ, quyền hạn15
2.2.3 Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân15
2.2.4. Đối với người dưới 16 tuổi16
2.2.5. Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác16
2.3. Chế tài đối với tội đe dọa giết người16
2.3.1. Tội đe dọa giết người với khung cơ bản (Khoản 1)16
2.3.2. Tội đe dọa giết người có tình tiết định khung tăng nặng17
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI ĐE GIẾT NGƯỜI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG TỘI ĐE DỌA GIẾT NGƯỜI TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI VIỆT NAM19
3.1. Thực tiễn xét xử Tội đe dọa giết người19
3.1.1. Tình hình thụ lý giải quyết bản án hình sự về Tội đe dọa giết người trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 202219
3.1.2. Những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân trong quá trình áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 201523
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tội đe dọa giết người trong thực tiễn xét xử24
KẾT LUẬN27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO29

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Mỗi con người không phân biệt chủng tộc, giai cấp, giới tính, tôn giáo… Đều có các quyền cơ bản như quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do và nếu thiếu những quyền đó thì không có phẩm chất của con người[1]. Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hiệp quốc ngày 10/12/1948 tại điều 3 đã ghi nhận: “Mỗi người đều có quyền sống, tự do và an toàn cá nhân”. Con người là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Dưới chế độ xã hội- chủ nghĩa tính mạng con người được coi là vốn quý nhất, được pháp luật Nhà nước ta đặc biệt quan tâm bảo hộ.

Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện tinh thần bảo vệ các quyền con người thông qua nhiều quy định cụ thể ở [2]điều 19: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.” Điều 31 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định về nguyên tắc suy đoán vô tội: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” [3]. Như vậy, có nghĩa khi nào chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị buộc tội vẫn được coi là người chưa có tội. Do vậy, hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động mang tính chất quyết định, xác định một người có tội hay không có tội là nội dung cơ bản của việc áp dụng pháp luật hình sự trong quá trình xét xử và là một trong những biện pháp đưa các quy phạm pháp luật vào cuộc sống. Trên cơ sở xác định người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội gì, quy định tại điều, khoản nào của Bộ luật Hình sự, cơ quan có thẩm quyền (Tòa án) sẽ quyết định một hình phạt phù hợp đối với hành vi phạm tội đó.

Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh, trong đó có cả tội đe dọa giết người. Hành vi “đe dọa” được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như qua lời nói trực tiếp, viết thư, gọi điện… hoặc bằng các cử chỉ, hành động như đi tìm công cụ, phương tiện đe dọa giết người dẫn đến tâm lý bất an, lo sợ cho người bị đe dọa. Bộ luật hình sự do Nhà nước ban hành quy định các hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, nhưng những quy định này chỉ nêu lên các dấu hiệu đặc trưng cơ bản nhất của một cấu thành tội phạm, trong khi trên thực tế tội phạm xảy ra vô cùng phức tạp và đa dạng. Tuy nhiên, vẫn còn một số ít trường hợp áp dụng không đúng, chưa xem xét đầy đủ tính chất, mức độ phạm tội nên dẫn đến việc định tội danh thiếu chính xác, việc hủy án, sửa án vẫn còn tồn tại ở tội đe dọa giết người.

Việc nghiên cứu những vấn đè lý luận và thực tiễn, phân tích rõ những dấu hiệu pháp lý, từ đó đề xuất các giải pháp để giái quyết những vướng mắc trong thực tiễn có liên quan đến tội đe dọa giết người luôn luôn là vấn đề cần thiết và có nhiều ý nghĩa. Với lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Tội đe dọa giết người trong Bộ luật hình sự Việt Nam”, nhằm nghiên cứu thực tiễn xét xử cũng như đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ án nói chung, các vụ án về Tội đe dọa giết người nói riêng.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Bài nghiên cứu làm sâu sắc vấn đề lý luận về tội đe dọa giết người và phân tích, đánh giá thực tiễn xét xử của bản án trong những  năm gần đây từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về tội đe dọa giết người trong Bộ luật hình sự và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực tiễn xét xử.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Từ cơ sở tổng hợp quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước về tội đe dọa giết người, bài viết tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện về một số vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc quy định tội đe dọa giết người.

– Khái quát sự phát triển của việc ghi nhận thực hiện tội đe dọa giết người  trong lịch sử của Việt Nam từ xưa đến nay.

– Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về tội đe dọa giết người từ đó làm rõ những hạn chế của việc áp dụng và nguyên nhân của nó.

– Đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định về tội đe dọa giết người trong Bộ luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tiễn.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu tập trung vào các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng tội đe dọa giết người được quy định tại Điều 133 trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Bài viết nghiên cứu thực tiễn tội đe dọa giết người trong phạm vi toàn quốc từ năm 2019 đến 2022.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, bài viết vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là phương pháp luận khoa học được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ bài viết để đánh giá khách quan tội đe dọa giết người.

– Phương pháp hệ thống: Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận văn nhằm trình bày các vấn đề, nội dung của luận văn theo trình tự, bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề để đạt được mục đích, yêu cầu đã được xác định cho luận văn.

– Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong các chương của luận văn. Cụ thể là được sử dụng để đi sâu vào tìm tòi, trình bày các hiện tượng, quan điểm, quy định và thực tiễn tội đe dọa giết người.

– Phương pháp thống kê: nhằm thống kê, so sánh quá trình hình thành và phát triển của quy định định tội danh nói chung và đối với tội đe dọa giết người nói riêng trong luật hình sự Việt Nam từ trước đến nay.

– Phương pháp trìu tượng – Xem lại phương pháp này: Phương pháp này được sử dụng để trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về lí luận và thực tiễn của đề tài xây dựng nên hệ thống luận điểm, luận cứ khoa học và đưa ra phương hướng và hệ thống các quan điểm nhằm hoàn thiện pháp luật về tội đe dọa giết người trong pháp luật hình sự ở Việt Nam hiện nay.

Cụ thể là Phần này nồng ghép vào với các phương pháp cụ thể, không tách rời thế này:

ỞChương 1, tôi chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, phương pháp trừu tượng để đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản, khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và quá trình hình thành, phát triển về tội đe dọa giết người.

Ở Chương 2, tôi chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp về những dấu hiệu pháp lý, các dấu hiệu định khung tăng nặng, các chế tài về tội đe dọa giết người.

Ở Chương 3, tôi chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp đối chiếu, phương pháp trừu tượng để đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tội đe dọa giết người trong thực tiễn xét xử tại Việt Nam.

5. Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của tiểu luận gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về tội đe dọa giết người.

Chương 2: Quy  định về tội đe dọa giết người trong Bộ luật hính sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Chương 3: Thực tiễn xét xử tội đe giết người và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tội đe dọa giết người trong thực tiễn xét xử tại Việt Nam.

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI ĐE DỌA GIẾT NGƯỜI

1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc quy định tội đe dọa giết người

1.1.1. Khái niệm tội đe dọa giết người

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “đe dọa là làm cho người khác sợ hay tạo nên mối lo lắng về tai họa nào đó”.

Theo khoa học luật hình sự, đe dọa giết người được hiểu là hành vi của người đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện và người phạm tội không có ý thức tước đoạt tính mạng của người bị đe dọa cũng như không có ý thức để mặc cho hậu quả người bị đe dọa chết xảy ra. [4]

Theo đó, đe dọa giết người là hành vi của một người bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác làm cho người khác lo sợ rằng mình sẽ bị giết.[5]

Tóm lại, đe dọa giết người là hành vi đe dọa hoặc hăm dọa người khác. Đây là hành vi cố ý đe dọa tính mạng của con người được thể hiện dưới nhiều hình thức như lời nói, văn bản hoặc hành động…

Từ khái niệm trên có thể hiểu: Đe dọa giết người là hành vi của một người bằng lời nói, hành động hoặc bằng các thủ đoạn khác làm cho người khác lo sợ rằng họ sẽ bị giết.

1.1.2. Đặc điểm tội đe dọa giết người – Phần này chưa chuẩn xãc

Thứ nhất, về hành vi. Hành vi đe dọa tước đoạt mạng sống của người khác trái pháp luật. Cụ thể, người phạm tội phải có hành vi làm cho người bị đe dọa lo sợ bị giết.

Thứ hai, về hình thức thể hiện:  Hành vi đe dọa giết người được thực hiện bằng hình thức hành động (như: nói trực tiếp công khai là sẽ giết, giơ phương tiện như súng, dao đe dọa

Thứ ba, mục đích là nhằm đe dọa tước đoạt mạng sống của người khác trái pháp luật chứ không nhằm tước đoạt mạng sống của người khác trái pháp luật.

Thứ tư, người thực hiện hành vi đe dọa giết người phải nhận thức được hành vi đe dọa giết người là hành vi trái pháp luật nhưng vẫn mong muốn thức hiện hành vi đó trên thực tế.

Thứ năm, người bị hại trước hành vi đe dọa giết người phải thực sự lo lắng và tin rằng hành vi đe dọa của người phạm tội phải được thực hiện.

1.1.3. Ý nghĩa của việc quy định tội đe dọa giết người

Hiện nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì vấn đề xã hội cũng được nhà nước quan tâm. Đặc biệt hành vi đe dọa giết người đã và đang xảy ra rất nhiều. Mà hành vi đe dọa người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Chính vì vậy việc quy định tội đe dọa giết người sẽ đảm bảo an toàn cho các cá nhân nhằm ngăn chặn những hành vi đe dọa và bạo lực có thể gây nguy hiểm cho mạng sống của người khác, giúp bảo vệ tâm lý và tinh thần của những người bị đe dọa.

Thứ nhất, bảo vệ tính mạng: Tội đe dọa giết người được coi là một hành vi đe dọa tính mạng của con người. Xã hội đặt giá trị cao tính mạng và quyền sống của mỗi cá nhân, và việc đe dọa giết người đánh đồng với việc đe dọa tước đoạt quyền sống của người khác.

Thứ hai, bảo vệ công cộng: Tội đe dọa giết người gây ra sự hoang mang, sợ hãi và lo lắng trong cộng đồng. Điều này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự an ninh, trật tự và tinh thần tổ chức xã hội. Trừng phạt người phạm tội có thể đóng góp vào việc bảo vệ công cộng và đảm bảo an toàn cho cộng đồng.

Thứ ba, phòng ngừa tội phạm: Xử lý nghiêm các trường hợp đe dọa giết người có thể có tác động phòng ngừa đối với tội phạm tương tự. Khi người ta nhận thức rằng hành vi đe dọa và tấn công người khác sẽ bị trừng phạt một cách nghiêm khắc, họ có thể suy nghĩ hai lần trước khi thực hiện hành vi tương tự.

Thứ tư, xây dựng luật pháp và hệ thống tư pháp: Tội đe dọa giết người là một trong những tội phạm nghiêm trọng được quy định trong luật pháp. Việc xử lý và truy cứu trách nhiệm người phạm tội đóng góp vào việc xây dựng hệ thống luật pháp và tư pháp mạnh mẽ, đảm bảo công bằng và tuân thủ quyền pháp.

1.2. Khái quát lịch sử hình thành tội đe dọa giết người

Nghiên cứu quá trình hình thành các quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam nhất là sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay nhằm nhận dạng nó trong từng giai đoạn lịch sử, xác định khả năng kế thừa và phát huy có hiệu quả những thành tựu và bài học kinh nghiệm về pháp luật hình sự nói chung và tội đe đe dọa giết người nói riêng. Giáo sư, tiến sỹ khoa học Đào Trí Úc đã viết: “Một trong những mục đích của việc nghiên cứu về pháp luật trong bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử là xác định cho được những khả năng kế thừa, bởi vì kế thừa trong pháp luật hình sự là sự kế thừa văn hóa và truyền thống”[6].

1.2.1. Từ năm 1945 đến năm 1985

Việt Nam dân chủ cộng hòa trong những ngày đầu mới thành lập gặp rất nhiều khó khăn (giặc đói, giặc dốt, các thế lực thù địch vẫn chưa từ bỏ âm mưu xâm chiếm). Để ổn định tình hình đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 47/SL ngày 10/10/1945. Theo đó, nước ta trong giai đoạn này được phép áp dụng pháp luật của đế quốc và phong kiến miễn là không trái với nguyên tắc độc lập của Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa. Như vậy ba vùng Bắc, Trung, Nam tiếp tục áp dụng ba Bộ luật Hình sự khác nhau (Bắc Kỳ là Hình sự An Nam, Trung Kỳ là Hoàng Việt hình luật, Nam kỳ là Hình luật Pháp tu chính). Điều này tất yếu dẫn đến đòi hỏi việc ban hành các văn bản pháp luật bởi lẽ ba vùng áp dụng ba bộ luật khác nhau không phù hợp với chính thể dân chủ cộng hòa.

Ngày 28/02/1946 Sắc lệnh số 27/SL ra đời truy tố các tội bắt cóc, tống tiền và ám sát, Sắc lệnh số 133/SL ngày 20/01/1953 trừng trị những tội xâm phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của Nhà nước, Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 về việc trừng trị một số tội phạm. Như vậy, thời kỳ này cũng không có một văn bản nào quy định riêng về tội đe dọa giết người.

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình lập lại, cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới. Những văn bản pháp luật của đế quốc và phong kiến mặc dù được áp dụng theo tinh thần mới nhưng không còn phù hợp nữa. Ngày 30/06/1955 Thông tư số 19/ VHH-HS của Bộ Tư pháp ra đời yêu cầu các Tòa án không áp dụng Pháp luật của đế quốc phong kiến nữa, mở ra trang sử mới cho pháp luật Hình sự Việt Nam nói chung, pháp luật về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng. Việc xét xử tội phạm thuộc nhóm tội này dựa vào đường lối, chính sách và các văn bản pháp luật do Tòa án nhân dân tối cao ban hành.

1.2.2. Bộ luật Hình sự năm 1985

Đất nước thống nhất tất yếu nền pháp luật cũng phải thống nhất đòi hỏi khách quan đáp ứng kịp thời trong giai đoạn mới. Trong một quốc gia, pháp luật được áp dụng mỗi nơi khác nhau là công việc hết sức khó khăn, thiếu sự đồng bộ. Do đó ngày 27/6/1985 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cho ra đời Bộ luật hình sự 1985. Đây là Bộ luật hình sự đầu tiên của nước ta đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong sự phát triển của pháp luật nhà nước. Có thể nói Bộ luật hình sự năm 1985 là thánh tựu nổi bật về trí tuệ pháp luật hình sự Việt Nam, có tác dụng hết sức quan trọng trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người được quy định tại chương II (phần các tội phạm) của Bộ luật, bao gồm 17 Điều luật (từ Điều 101 đến Điều 117) và hình phạt bổ sung (Điều 118).

[1] Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Tuyen-ngon-quoc-te-nhan-quyen-1948-65774.aspx

[2] Hiến pháp Việt Nam năm 2013: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hien-phap-nam-2013-215627.aspx

[3] Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Trach-nhiem-hinh-su/Bo-luat-to-tung-hinh-su-2015-296884.aspx

[4] https://nplaw.vn/toi-de-doa-giet-nguoi-co-bi-phat-tu-khong.html

[5] Huynh Duong Tri, Comparison and Contrast of “Threat of murder” in Vietnam and Victoria (Australia)

[6] Đào Trí Úc (1997), Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG

TẢI VỀ

Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!

Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)

Chuyên mục: Tiểu luận/ Tiểu luận Luật Hình sự Việt Nam
Từ khóa: Tội đe dọa giết người

Primary Sidebar

Tìm kiếm theo từ khóa:

Công nghệ chúng tôi sử dụng?

Tiểu Luận Ngành Luật

  • Báo cáo thực tập (19)
    • Thực tập tại Công ty Luật/Văn phòng Luật sư (6)
    • Thực tập tại Đơn vị thực tập/kiến tập khác (4)
    • Thực tập tại Tòa án (8)
    • Thực tập tại Văn phòng công chứng (1)
  • Tài liệu học Luật (32)
    • Bài tập tình huống [CÓ ĐÁP ÁN] (17)
    • Câu hỏi Tự luận [CÓ ĐÁP ÁN] (2)
    • Đề cương ôn tập [CÓ ĐÁP ÁN] (5)
    • Đề thi tổng hợp [CÓ ĐÁP ÁN] (2)
    • Nhận định đúng sai [CÓ ĐÁP ÁN] (2)
    • Trắc nghiệm ABCD [CÓ ĐÁP ÁN] (4)
  • Tiểu luận (1.431)
    • Đạo đức người cán bộ kiểm sát (1)
    • Kỹ năng chung về tư vấn pháp luật (1)
    • Legal English Essay (3)
    • Luật Khiếu nại – khiếu kiện hành chính (1)
    • Lý luận và thực tiễn về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1)
    • Nhà nước trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa (1)
    • Tiểu luận Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự (6)
    • Tiểu luận Các giai đoạn tố tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam (6)
    • Tiểu luận Cải cách hành chính nhà nước (10)
    • Tiểu luận Chủ nghĩa xã hội khoa học (3)
    • Tiểu luận Công pháp quốc tế (31)
    • Tiểu luận Đại cương văn hóa Việt Nam (1)
    • Tiểu luận Đăng ký và quản lý hộ tịch (2)
    • Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (1)
    • Tiểu luận Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam (1)
    • Tiểu luận Hợp đồng thương mại (15)
    • Tiểu luận Hướng nghiệp nghề Luật (3)
    • Tiểu luận Khoa học điều tra tội phạm (3)
    • Tiểu luận Kinh tế Chính trị học Mác-Lênin (24)
    • Tiểu luận Kỹ năng đàm phán – giao kết và giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự (1)
    • Tiểu luận Kỹ năng đàm phán – soạn thảo hợp đồng kinh doanh – thương mại (5)
    • Tiểu luận Kỹ năng giải quyết tranh chấp (8)
    • Tiểu luận Kỹ năng thẩm định thẩm tra Văn bản quy phạm pháp luật (2)
    • Tiểu luận Kỹ năng thực hành nghề nghiệp (21)
    • Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (14)
    • Tiểu luận Lịch sử học thuyết chính trị (2)
    • Tiểu luận Lịch sử nhà nước và pháp luật (11)
    • Tiểu luận Lịch sử văn minh thế giới (3)
    • Tiểu luận Logic học (5)
    • Tiểu luận Luật An sinh xã hội (20)
    • Tiểu luận Luật An toàn thực phẩm (1)
    • Tiểu luận Luật Biển (8)
    • Tiểu luận Luật Cạnh tranh (21)
    • Tiểu luận Luật Chứng khoán (10)
    • Tiểu luận Luật Dân sự Việt Nam (102)
    • Tiểu luận Luật Doanh nghiệp (44)
    • Tiểu luận Luật Đất đai (40)
    • Tiểu luận Luật Đầu tư (20)
    • Tiểu luận Luật Hàng hải quốc tế (1)
    • Tiểu luận Luật Hành chính Việt Nam (29)
    • Tiểu luận Luật Hiến pháp nước ngoài (3)
    • Tiểu luận Luật Hiến pháp Việt Nam (51)
    • Tiểu luận Luật Hình sự quốc tế (40)
    • Tiểu luận Luật Hình sự Việt Nam (144)
    • Tiểu luận Luật Hòa giải – đối thoại tại Tòa án (1)
    • Tiểu luận Luật Hôn nhân và gia đình (35)
    • Tiểu luận Luật Kinh doanh bảo hiểm (5)
    • Tiểu luận Luật Lao động Việt Nam (41)
    • Tiểu luận Luật Luật sư (7)
    • Tiểu luận Luật Môi trường Việt Nam (18)
    • Tiểu luận Luật Ngân hàng Việt Nam (28)
    • Tiểu luận Luật Ngân sách nhà nước (11)
    • Tiểu luận Luật Nhà ở (3)
    • Tiểu luận Luật Phá sản (5)
    • Tiểu luận Luật Phòng chống tham nhũng (7)
    • Tiểu luận Luật Sở hữu trí tuệ (34)
    • Tiểu luận Luật So sánh (69)
    • Tiểu luận Luật Tài chính (18)
    • Tiểu luận Luật Thi hành án dân sự (7)
    • Tiểu luận Luật Thi hành án hình sự (13)
    • Tiểu luận Luật Thuế Việt Nam (21)
    • Tiểu luận Luật Thương mại điện tử (2)
    • Tiểu luận Luật Thương mại quốc tế (27)
    • Tiểu luận Luật Thương mại Việt Nam (67)
    • Tiểu luận Luật Tổ chức chính quyền địa phương (4)
    • Tiểu luận Luật Tố tụng dân sự (45)
    • Tiểu luận Luật Tố tụng hành chính (10)
    • Tiểu luận Luật Tố tụng hình sự (81)
    • Tiểu luận Lý luận chung về Viện kiểm sát và công tác kiểm sát (10)
    • Tiểu luận Lý luận nhà nước và pháp luật (16)
    • Tiểu luận Lý luận về phòng ngừa tội phạm (7)
    • Tiểu luận Nhập môn nghiên cứu khoa học (2)
    • Tiểu luận Những vấn đề hiện đại về Luật tố tụng hình sự (10)
    • Tiểu luận Những vấn đề lý luận và thực tiễn chuyên sâu về tài sản (5)
    • Tiểu luận Pháp luật cộng đồng ASEAN (3)
    • Tiểu luận Pháp luật đại cương (7)
    • Tiểu luận Pháp luật Liên minh Châu Âu (1)
    • Tiểu luận Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại (1)
    • Tiểu luận Pháp luật về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2)
    • Tiểu luận Pháp luật về Chống bán phá giá – chống trợ cấp và biện pháp phòng vệ thương mại (1)
    • Tiểu luận Pháp luật về Công chứng – chứng thực (3)
    • Tiểu luận Pháp luật về Dữ liệu cá nhân và công nghệ số (2)
    • Tiểu luận Pháp luật về Đấu thầu và đấu giá tài sản (1)
    • Tiểu luận Pháp luật về Kinh doanh bất động sản (12)
    • Tiểu luận Pháp luật về Người khuyết tật (2)
    • Tiểu luận Pháp luật về Quyền con người (3)
    • Tiểu luận Pháp luật về Thanh tra – Khiếu nại – Tố cáo (8)
    • Tiểu luận Pháp luật về Thu hồi đất – bồi thường và giải phóng mặt bằng (5)
    • Tiểu luận Pháp luật về Thương mại hóa tài sản trí tuệ (2)
    • Tiểu luận Pháp luật về Y tế (1)
    • Tiểu luận Phát triển kỹ năng (1)
    • Tiểu luận Quản trị công ty (1)
    • Tiểu luận Quản trị doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam (1)
    • Tiểu luận Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp (1)
    • Tiểu luận Quản trị thương hiệu (1)
    • Tiểu luận Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự (2)
    • Tiểu luận Tâm lý học đại cương (9)
    • Tiểu luận Tâm lý học tư pháp (12)
    • Tiểu luận Thanh toán quốc tế (1)
    • Tiểu luận Thủ tục đặc biệt trong tố tụng dân sự (1)
    • Tiểu luận Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân (1)
    • Tiểu luận Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (2)
    • Tiểu luận Tội phạm học (23)
    • Tiểu luận Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (8)
    • Tiểu luận Trách nhiệm hình sự và hình phạt (4)
    • Tiểu luận Tranh tụng trong tố tụng hình sự (6)
    • Tiểu luận Triết học (289)
    • Tiểu luận Tư duy biện luận ứng dụng (3)
    • Tiểu luận Tư pháp người chưa thành niên (33)
    • Tiểu luận Tư pháp quốc tế (16)
    • Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh (23)
    • Tiểu luận Xã hội học pháp luật (2)
    • Tiểu luận Xây dựng lập luận pháp lý và viết trong hành nghề luật (1)
    • Tiểu luận Xây dựng văn bản pháp luật (4)

TIỂU LUẬN môn học đại cương

  • Tiểu luận Kinh tế Chính trị học Mác-Lênin
  • Tiểu luận Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
  • Tiểu luận Lịch sử văn minh thế giới
  • Tiểu luận Logic học
  • Tiểu luận Lý luận nhà nước và pháp luật
  • Tiểu luận Nhập môn nghiên cứu khoa học
  • Tiểu luận Tâm lý học đại cương
  • Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh
  • Tiểu luận Triết học

Tiểu luận ngành QUẢN TRỊ LUẬT

  • Tiểu luận Quản trị thương hiệu

Copyright 2008 © 2026 · Website chạy thử nghiệm chờ Giấy phép của Bộ Thông tin và truyền thông