THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 29 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0128.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Hình sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Phân tích dấu hiệu pháp lý của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)? Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản? 2 B0128 toi lua dao chiem doat tai san 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0128-toi-lua-dao-chiem-doat-tai-san-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 174 BỘ LUẬT HÌNH SỰ | 2 |
| 1.1. Khách thể của tội phạm | 2 |
| 1.2. Mặt khách quan của tội phạm | 2 |
| 1.2.1. Về hành vi | 2 |
| 1.2.2. Về hậu quả | 3 |
| 1.3. Mặt chủ quan của tội phạm | 4 |
| 1.4. Chủ thể của tội phạm | 4 |
| CHƯƠNG II: PHÂN BIỆT TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VỚI TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN | 5 |
| 2.1. Vị trí trong BLHS năm 2015 | 5 |
| 2.2. Mặt khách quan | 5 |
| 2.3. Mặt chủ quan | 7 |
| 2.4. Chủ thể | 7 |
| 2.5. Ví dụ thực tế | 8 |
| CHƯƠNG III: NHẬN XÉT VỀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN | 10 |
| 3.1. Điểm mới trong quy định của BLHS năm 2015 đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản | 10 |
| 3.2. Thực tiễn của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở nước ta | 11 |
| KẾT LUẬN | 12 |
| PHỤ LỤC | 13 |
| 1. Bản án 03/2020/HS-ST ngày 10/01/2020 về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản | 13 |
| 2. Bản án 09/2020/HSST ngày 08/01/2020 về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản | 20 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 26 |
LỜI MỞ ĐẦU
Các tội về xâm phạm sở hữu là một nội dung quan trọng được quy định tại chương XVI của BLHS năm 2015. Đây là nhóm tội có khách thể là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân với đối tượng tác động cụ thể là tài sản. Hành vi chủ yếu của người phạm một trong các tội này là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, có thể là người sở hữu tài sản hoặc người thực tế đang quản lý tài sản đó. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi là tài sản bị chiếm hữu trái pháp luật, hoặc nghiêm trọng hơn là bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát.
Một trong những tội phạm phổ biến, thường xảy ra trên thực tế của nhóm tội này là Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015. So với BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), quy định của pháp luật về tội danh này đã được bổ sung đầy đủ và rõ ràng hơn, chẳng hạn như quy định cụ thể hơn về các trường hợp cấu thành tội phạm nếu giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới mức 2.000.000 đồng. Do đó, tại tiểu luận này, em sẽ phân tích dấu hiệu pháp lý của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS 2015. Trong quá trình phân tích, có thể nhận thấy rằng tội phạm này có mối liên hệ với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS 2015). Việc phân biệt rõ ràng giữa hai tội danh trên có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội đối với hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế. Vì vậy, tại phần sau của tiểu luận, em xin phép được chỉ ra một vài điểm khác biệt giữa hai tội: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
CHƯƠNG I: CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 174 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
1.1. Khách thể của tội phạm
Tội phạm xâm phạm quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân.
1.2. Mặt khách quan của tội phạm
1.2.1. Về hành vi
Mặt khách quan của tội phạm thể hiện qua hai hành vi: dùng hành vi (thủ đoạn) gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản rồi sau đó có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác.
Hành vi (thủ đoạn) gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản có thể được hiểu là đưa ra thông tin gian dối để người khác tưởng đó là thật mà giao tài sản cho mình. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … Chẳng hạn, A nhặt được vé giữ xe máy của người khác làm rơi trong bãi giữ xe và khiến người giữ xe tưởng đó là vé của A, sau đó cho phép A dắt xe đi.
Sau đó, người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản, được thể hiện ở một trong hai dạng:
(i) Khi nhận được tài sản do người khác giao cho (vì bị lừa) thì chiếm đoạt tài sản đó. Trong ví dụ nêu trên, hành vi chiếm đoạt tài sản của A có thể được thực hiện như sau: A sau khi lừa được người giữ xe thì dắt xe ra khỏi bãi đỗ để chiếm đoạt chiếc xe đó.
(ii) Giữ lại tài sản mà người phạm tội có nghĩa vụ phải giao cho người quản lý tài sản. Lấy ví dụ như trường hợp: B mang xe máy của C đi “luộc” phụ tùng trong xe rồi mới trả lại cho C.
1.2.2. Về hậu quả
Hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác” cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi:
(i) Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá 2.000.000 đồng trở lên.
(ii) Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc vào một trong các trường hợp nêu tại khoản 1 Điều 174 BLHS 2015. Đó là các trường hợp:
Trường hợp 1: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.
Bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm, nếu trước đó đã bị người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi chiếm đoạt tài sản (ví dụ như cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, tham ô tài sản,…), nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.1
Trường hợp 2: Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Trường hợp này được hiểu như sau: người phạm tội đã bị kết án về một trong các tội có tính chất chiếm đoạt tài sản nêu trên, chưa được xóa án tích theo quy định của BLHS[1] [2] mà lại thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trường hợp 3: Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Trường hợp 4: Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ là những thứ mà người bị hại và gia đình họ sử dụng là phương tiện chính để kiếm sống trong đời sống sinh hoạt hằng ngày.
Lưu ý:
> Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoàn thành từ thời điểm có sự giao, nhận tài sản giữa người bị hại và người phạm tội.
> Cần lưu ý thêm về trường hợp: Nếu có hành vi sử dụng là mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản của người khác bằng các thủ đoạn gian dối mà thỏa mãn cấu thành tội phạm của Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 290 BLHS thì người thực hiện hành vi sẽ bị truy cứu TNHS về tội này mà không bị truy cứu TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
> Bên cạnh đó, hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu thỏa mãn cấu thành tội phạm quy định tại Điều 174 và Điều 341 BLHS năm 2015 thì người thực hiện hành vi sẽ bị truy cứu TNHS về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 và Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức hoặc Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 BLHS năm 2015.
1.3. Mặt chủ quan của tội phạm
Về vấn đề xác định lỗi, do người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra, do đó tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.
Bên cạnh đó, người phạm tội có ý định “nhằm chiếm đoạt tài sản” ngay từ đầu, trước khi thực hiện hành vi phạm tội.
1.4. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực TNHS…
[1] Khoản 1, Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định như sau: “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.”
[2] Xóa án tích được quy định từ Điều 69 đến Điều 73 và Điều 107 BLHS năm 2015.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)