THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 29 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0129.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Hình sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 Bộ luật Hình sự). Phân biệt với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật Hình sự) 2 B0129 toi su dung mang may tinh chiem doat tai san 2](https://bunny-wp-pullzone-evwxkqab4s.b-cdn.net/wp-content/uploads/2024/02/B0129-toi-su-dung-mang-may-tinh-chiem-doat-tai-san-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 290 BỘ LUẬT HÌNH SỰ | 2 |
| 1.1. Khách thể của tội phạm | 2 |
| 1.2. Mặt khách quan của tội phạm | 2 |
| 1.3. Mặt chủ quan của tội phạm | 6 |
| 1.4. Chủ thể của tội phạm | 6 |
| CHƯƠNG II: PHÂN BIỆT TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 174 BỘ LUẬT HÌNH SỰ | 7 |
| CHƯƠNG III: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN | 12 |
| 3.1. Khái quát chung về việc định tội | 12 |
| 3.1.1. Khái niệm | 12 |
| 3.1.2. Các bước định tội | 12 |
| 3.2. Một số khó khăn, vướng mắc và hướng giải quyết trong thực tiễn định tội danh đối với tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản | 12 |
| KẾT LUẬN | 18 |
| PHỤ LỤC | 20 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 25 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại hiện nay, lĩnh vực mạng máy tính, mạng viễn thông đang phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu lớn. Đây là phương tiện giúp cho cuộc sống của con người ngày càng hiện đại và tiện nghi hơn, thế nhưng không thể phủ nhận rằng nó cũng là tạo điều kiện giúp cho tội phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng gia tăng về cả số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng. Để giảm thiểu tình trạng này, một trong những giải pháp được chú trọng đó là hoàn thiện hệ thống pháp luật trong việc điều chỉnh các loại tội phạm này.
Trên cơ sở đó, trong lĩnh vực liên quan tới bảo vệ tài sản, nhằm hạn chế hành vi chiếm đoạt tài sản trái phép, BLHS đã quy định về tội danh sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Quy định này từ khi được đưa vào BLHS đã phát huy được vai trò của mình, và dần được sửa đổi, bổ sung trong quá trình hoàn thiện pháp luật. Tại BLHS hiện hành, tội này được quy định tại Điều 290, chương XXI – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Mặc dù vậy, trong quá trình áp dụng, những quy định này vẫn bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập. Một trong số đó là trong nhiều trường hợp vẫn còn tồn tại những quan điểm trái chiều khi định tội danh này, cụ thể là thường xảy ra tranh chấp giữa tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Do đó để tránh nhầm lẫn, chúng ta cần phải nắm vững được quy định của pháp luật hình sự cũng như các quy định của pháp luật liên quan đối với Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS), từ đó chỉ ra được sự khác nhau giữa tội này và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS). Bên cạnh đó, rõ ràng việc áp dụng quy định này trong việc định tội danh đã bộc lộ không ít những khó khăn, vướng mắc. Vậy các chủ thể có thẩm quyền trong quá trình này đã có hướng giải quyết như thế nào để có thể đảm bảo được quyền lợi của các bên ? Tại tiểu luận này, em xin được trình bày những vấn đề nêu trên với cơ sở pháp lý là quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
CHƯƠNG I: CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 290 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
1.1. Khách thể của tội phạm
Tội phạm xâm phạm an toàn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, đồng thời xâm phạm quyền, lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân.[14]
1.2. Mặt khách quan của tội phạm
Về hành vi: Hành vi được thể hiện ở việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Bên cạnh đó, để được xác định phạm tội này, hành vi trên phải không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Để làm rõ các hành vi trong mặt khách quan của tội phạm, ta sẽ phân tích một số khái niệm:
Mạng máy tính là tập hợp nhiều máy tính kết nối với nhau, có thể chia sẻ dữ liệu cho nhau. (Khoản 3 Điều 2 Thông tư liên tịch 10/2012/TTLT-BCA-BQP- BTP-BTTTT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012).
Mạng viễn thông là tập hợp thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng đường truyền dẫn để cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông. (Khoản 10 Điều 3 Luật Viễn thông 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2018).
Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự. (Khoản 10 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005).
Như vậy, đối với tội phạm này, người phạm tội sử dụng các công cụ, phương tiện nêu trên để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi này được thể hiện dưới một trong các dạng sau:
(1) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.[14]
Đây là trường hợp người phạm tội dùng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà người phạm tội biết được thông qua các cách thức khác nhau, rồi dùng thông tin đó để trả tiền hàng hóa, dịch vụ mà mình sử dụng mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu.
Ví dụ: C sử dụng tài khoản Facebook, Zalo, điện thoại di động liên hệ lấy thông tin tài khoản thẻ Mastercard ViettelPay của chị A rồi sử dụng thông tin tài khoản đó mua 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh với giá 16.690.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 6S màu vàng với giá 2.750.000 đồng, phí giao hàng là 63.800 đồng trên ứng dụng Lazada để sử dụng, tổng cộng là 19.503.800 đồng.1
(2) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.[14]
Làm giả thẻ ngân hàng là việc cá nhân không có thẩm quyền sản xuất, phát hành thẻ ngân hàng nhưng sản xuất thẻ giống như thẻ ngân hàng (trong đó có chứa đựng thông tin, dữ liệu như thẻ của ngân hàng phát hành)[1] [2].
Ví dụ: Do không có tiền tiêu xài cá nhân, Yang ChC, Lian Y, Deng Cong C góp tiền mua thiết bị skimming, thẻ ATM trắng, máy tính tại Trung Quốc rồi phân công nhiệm vụ khi sang Việt Nam: C là người đi lắp thiết bị skimming, Y là người đi tháo thiết bị mang về cho ChC và để sao chép dữ liệu vào máy tính, gửi qua phần mềm Wechat về Trung Quốc cho V để tiến hành giải mã rồi chuyển lại cho ChC. Khi có được dữ liệu đã giải mã, các đối tượng này sử dụng máy quẹt thẻ quét dữ liệu vào thẻ ATM trắng để làm thẻ ATM giả, chiếm đoạt tiền của các khách hàng tại các Ngân hàng ở Việt Nam tại các cây ATM. Kết quả là đã làm được 316 thẻ ATM giả, chiếm đoạt tiền của 29 khách hàng.[3]
(3) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản. Đây là hành vi cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa hoặc sử dụng mã truy cập của người khác mà không được sự cho phép của người đó để truy cập vào tài khoản không phải của mình nhằm chiếm đoạt tài sản.[14]
Ví dụ: Anh T sau khi biết được mật khẩu đăng nhập vào tài khoản ví MOMO trên điện thoại di động của anh L thì nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trong ví MOMO của anh L, do đó đã nói dối anh L là mượn điện thoại để nhắn tin cho bạn rồi tự ý đăng nhập vào tài khoản ví MOMO của anh L và chuyển số tiền 15.000.000 đồng từ ví MOMO của anh L về ví MOMO của mình. Sau khi chiếm đoạt được 15.000.000 đồng của anh L, T đã chuyển 14.890.000 đồng về tài khoản ngân hàng (tài khoản ví MOMO của T liên kết với tài khoản này), còn số tiền 110.000 đồng T để lại trong ví MOMO và sử dụng tiêu xài cá nhân.4
(4) Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản.
Người thực hiện hành vi phạm tội sẽ sử dụng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật về một sản phẩm, một vấn đề, lĩnh vực trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu trên mạng nhằm tạo niềm tin cho người chủ tài sản, người quản lý tài sản, làm cho họ tưởng là thật và mua, bán hoặc đầu tư vào lĩnh vực đó. .[14]
Ví dụ: Thời gian gần đây, sàn giao dịch Forex nổi lên như một cái “bẫy” để lừa đảo người chơi. Các đối tượng phạm tội mua các trang web của nước ngoài và hướng dẫn tham gia các sàn Forex này. Họ hứa hẹn lợi nhuận khủng (mỗi tháng vài chục phần trăm), cam kết bảo toàn vốn và thường xuyên đăng tải những thông tin về những người chơi thành công, mua nhà, mua xe để mọi người tin tưởng đây là một loại hình kinh doanh mới, đa quốc gia và siêu lợi nhuận. Họ còn đưa ra thông tin gian dối là các đồng tiền kĩ thuật số mà người chơi bỏ tiền ra mua có thể đổi lại thành đô la Mỹ hoặc tiền mặt Việt Nam đồng. Nhưng thực chất, đây là mô hình kinh doanh đa cấp để phát triển hệ thống, lấy tiền của người vào sau, trả cho người vào trước. Mục đích là đánh vào sự nhẹ dạ cả tin và lòng tham của người chơi nên các đối tượng cho người chơi thắng những lần đầu, thành ham, cuối cùng can thiệp vào lệnh và hệ thống để điều chỉnh kết quả chơi. Khi người chơi có nhiều tiền trong tài khoản thì các đối tượng can thiệp vào các lệnh khiến cho người chơi liên tục thua cho đến khi hết tiền. Khi chiếm đoạt được tiền của nhiều bị hại, đến một thời điểm nhất định thì các đối tượng đánh sập hệ thống, chiếm đoạt tiền rồi bỏ trốn.[2]
(5) Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản. Ở đây, một hệ thống viễn thông, internet không được pháp luật cho phép sẽ được tạo ra nhằm thu hút khách hàng vào sử dụng và chiếm đoạt tài sản của họ. [14]
[1] Theo Bản án 06/2021/HS-ST ngày 29/01/2021 về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
[2] Khoản 1 Điều 10 Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTTTT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012.
[3] Theo Bản án 117/2020/HS-ST ngày 26/08/2020 về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)