THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 30 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0092.
- Văn bản áp dụng: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Vấn đề dẫn độ theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài 3 van de dan do theo phap luat viet nam va phap luat nuoc ngoai 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/van-de-dan-do-theo-phap-luat-viet-nam-va-phap-luat-nuoc-ngoai-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DẪN ĐỘ TỘI PHẠM VÀ DẪN ĐỘ TÔI PHẠM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM | 3 |
| 1.1. Khái quát chung về dẫn độ tội phạm | 3 |
| 1.1.1. Khái niệm dẫn độ tội phạm | 3 |
| 1.1.2. Đặc điểm của dẫn độ tội phạm | 3 |
| 1.1.3. Vai trò của dẫn độ tội phạm | 4 |
| 1.1.4. Bản chất của dẫn độ tội phạm | 5 |
| 1.2. Pháp luật về dẫn độ tội phạm | 5 |
| 1.2.1. Nội dung dẫn độ tội phạm | 5 |
| 1.2.2. Các nguyên tắc của dẫn độ | 6 |
| 1.2.3. Các trường hợp không dẫn độ tội phạm | 9 |
| CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ PHÁP LÝ DẪN ĐỘ TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI | 12 |
| 2.1. Đối tượng và phạm vi dẫn độ tội phạm trên cơ sở so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Nhật Bản | 12 |
| 2.1.1. Đối tượng dẫn độ và phạm vi dẫn độ tội phạm theo pháp luật Việt Nam | 12 |
| 2.1.2. Đối tượng dẫn độ và phạm vi dẫn độ tội phạm theo pháp luật Nhật Bản | 12 |
| 2.2. Thẩm quyền thực hiện việc dẫn độ tội phạm trên cơ sở so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Nhật Bản | 13 |
| 2.2.1. Về cơ quan có thẩm quyền yêu cầu dẫn độ: | 13 |
| 2.2.2. Về cơ quan có thẩm quyền chấp nhận hoặc từ chối dẫn độ: | 13 |
| 2.2.3. Về cơ quan có thẩm quyền xét xử người bị dẫn độ: | 14 |
| 2.2.4. Về cơ quan có thẩm quyền thi hành án đối với người bị dẫn độ: | 14 |
| 2.3. Thủ tục dẫn độ trên cơ sở so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Nhật Bản | 14 |
| 2.4. Nghĩa vụ dẫn độ tội phạm trên cơ sở so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Nhật Bản | 15 |
| 2.5. Căn cứ từ chối dẫn độ tội phạm trên cơ sở so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Nhật Bản | 17 |
| 2.6. Dẫn độ căn cứ theo Bộ luật Tố tụng hình sự của Việt Nam và Nhật Bản | 18 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CỦA DẪN ĐỘ TỘI PHẠM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP- KIẾN NGHỊ THI HÀNH DẪN ĐỘ TỘI PHẠM TẠI VIỆT NAM | 19 |
| 3.1. Thực trạng của dẫn độ tội phạm | 19 |
| 3.1.1. Pháp luật Việt Nam về dẫn độ vừa thiếu vừa thiếu vừa không đồng bộ | 19 |
| 3.1.2. Thiếu cơ sở pháp lý song phương và đa phương để hợp tác dẫn độ các nước | 20 |
| 3.2. Giải pháp, kiến nghị | 22 |
| KẾT LUẬN | 24 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 26 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển không ngừng của cộng đồng quốc tế trên mọi lĩnh vực đã mang lại lợi ích cho các quốc gia trong quá trình phát triển. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế giúp các nước trên thế giới và đặc biệt là Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn và cơ hội phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng gây ra nhiều rủi ro, thách thức lớn cho các quốc gia như bất ổn chính trị, xung đột sắc tộc, tôn giáo, tệ nạn xã hội. Trong đó, tình hình tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức quốc tế ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, đe dọa sự bền vững của mỗi quốc gia và hòa bình, an ninh quốc tế. Do tình hình tội phạm trong nước và thế giới ngày càng phức tạp, đòi hỏi các nước phải tăng cường quan hệ, hợp tác đồng bộ, toàn diện bằng mọi biện pháp chính trị, pháp lý, kinh tế, y tế, an ninh,… để tăng cường đấu tranh chống tội phạm. Đặc biệt, dẫn độ là cách khách quan và hiệu quả nhất để các quốc gia tăng cường trách nhiệm hình sự hoặc thực thi hình phạt đối với tội phạm của quốc gia đó đang lẩn trốn ở quốc gia khác. Tuy nhiên, dẫn độ là một ngành luật hoàn toàn mới ở Việt Nam nên chưa có nhiều nghiên cứu có tính hệ thống và chuyên sâu. Ngược lại, việc đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm và thực tiễn dẫn độ của Việt Nam cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu, tổng kết. Vì vậy, còn rất nhiều khó khăn, trở ngại trong việc áp dụng các điều ước quốc tế có quy định về dẫn độ được ký kết và đưa vào pháp luật Việt Nam và pháp luật Việt Nam, hiệu quả dẫn độ ở Việt Nam còn hạn chế. Để tiếp tục triển khai hiệu quả công tác dẫn độ tội phạm ở Việt Nam trong giai đoạn này là một yêu cầu cấp thiết và rất kịp thời để tiếp tục nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận tổng hợp về thực tiễn dẫn độ.
Xuất phát từ nhận thức và thực trạng nói trên, nhóm chọn đề tài: “Vấn đề dẫn độ theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài” làm bài Tiểu luận của nhóm.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề dẫn độ theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nội dung so sánh các vụ án dẫn độ theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài.
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận của nhóm được tiến hành dựa trên các phương pháp như sau:
Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp trong việc nghiên cứu các quy trình cũng như các bước khởi kiện để bảo vệ quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
Phương pháp luận duy vật lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
5. Bố cục của tiểu luận
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về dẫn độ tội phạm
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về dẫn độ tội phạm
Chương 3: So sánh dẫn độ trong pháp luật Quốc tế với pháp luật Việt Nam
Chương 4: Thực trạng trong Điều ước Quốc tế và pháp luật Việt Nam. Một số giải pháp nhằm nâng cao dẫn độ ở Việt Nam.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DẪN ĐỘ TỘI PHẠM VÀ DẪN ĐỘ TÔI PHẠM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. Khái quát chung về dẫn độ tội phạm
1.1.1. Khái niệm dẫn độ tội phạm
Dẫn độ là một hình thức hợp tác pháp lý quốc tế nhằm chống tội phạm quốc tế. Như vậy, một quốc gia này chuyển tội phạm sang một quốc gia khác để quốc gia đó xử lý người đó theo luật riêng của mình. Việc dẫn độ tội phạm có những đặc điểm và nguyên tắc riêng được quy định trong các điều ước quốc tế hoặc pháp luật của mỗi nước.
Hoặc theo khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007 có định nghĩa như sau: “Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó”.
Từ định nghĩa trên ta có thể thấy hoạt động dẫn độ tội phạm trước hết là hoạt động hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau về mặt pháp lý (tương trợ pháp lý) dựa trên sự thoả thuận giữa các quốc gia hữu quan, chủ thể của hoạt động này là quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu, đối tượng là cá nhân đang hiện diện trên lãnh thổ quốc gia được yêu cầu, và mục đích của hoạt động dẫn độ là nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với cá nhân bị dẫn độ.
1.1.2. Đặc điểm của dẫn độ tội phạm
Qua khái niệm đã được phân tích ở phần trên, ta có thể thấy được dẫn độ tội phạm có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của dẫn độ tội phạm là các quốc gia và nội dung của quan hệ dẫn độ là hành vi yêu cầu dẫn độ do nước yêu cầu thực hiện và hành vi xem xét, chuyển giao người bị yêu cầu do nước được yêu cầu thực hiện.
Thứ hai, dẫn độ là việc một nước chuyển giao một người phạm tội cho một quốc gia khác. Việc chuyển giao phải được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của nước có yêu cầu. Người bị dẫn độ là người đã thực hiện hành vi phạm tội, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án bằng một bản án, sau đó bỏ trốn sang nước được yêu cầu.
Thứ ba, dẫn độ chỉ được thực hiện khi có yêu cầu dẫn độ từ một quốc gia. Nước mà người phạm tội mang quốc tịch, nước nơi hành vi phạm tội xảy ra, nơi tội phạm hoàn thành, hoặc nước có quyền lợi bị tội phạm xâm phạm đều có quyền yêu cầu dẫn độ. Việc chấp hay không chấp nhận dẫn độ sẽ do quốc gia được yêu cầu dẫn độ quyết định dựa trên các điều ước quốc tế liên quan pháp luật quốc gia và tình hình tội phạm trên thực tế.
Thứ tư, đối tượng bị dẫn độ là người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc là người đã thực hiện hành vi phạm tội và đã bị Tòa án có thẩm quyền của nước yêu cầu xét xử bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng đang lẩn trốn tại nước được yêu cầu.
Thứ năm, mục đích của dẫn độ: Là nhằm để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người bị yêu cầu dẫn độ đang lẩn trốn trên lãnh thổ của quốc gia được yêu cầu dẫn độ.
Thứ sáu, nguồn của hoạt động dẫn độ tội phạm được nói đến như là hình thức pháp lý chứa đựng các nguyên tắc và các quy phạm về dẫn độ tội phạm. Các loại nguồn điều chỉnh hoạt động hợp tác dẫn độ tội phạm giữa các quốc gia có thể kể đến là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế; pháp luật quốc gia.
1.1.3. Vai trò của dẫn độ tội phạm
Vai trò của dẫn độ tội phạm là rất quan trọng trong việc hợp tác quốc tế chống lại tội phạm quốc tế và đặc biệt là các tội phạm nghiêm trọng như khủng bố, buôn lậu, vận chuyển ma túy, rửa tiền, buôn người hoặc những tội phạm vi phạm nhân quyền và dân quyền. Dẫn độ tội phạm giúp các quốc gia có thể truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với tội phạm bỏ trốn sang lãnh thổ quốc gia khác, nhằm đảm bảo công lý và bình đẳng cho nạn nhân và xã hội. Việc dẫn độ tội phạm còn góp phần củng cố mối quan hệ hữu nghị, tin cậy giữa các quốc gia và thể hiện sự tôn trọng, tuân thủ luật pháp quốc tế.
1.1.4. Bản chất của dẫn độ tội phạm
Dẫn độ tội phạm về cơ bản là một hình thức hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp lý, nhằm chống lại tội phạm xuyên quốc gia. Qua đó, một quốc gia sẽ chuyển giao tội phạm sang cho một quốc gia khác, để quốc gia đó có thể xử lý người phạm tội đó theo pháp luật của đất nước mình.
1.2. Pháp luật về dẫn độ tội phạm
1.2.1. Nội dung dẫn độ tội phạm
Về phương diện pháp lý quốc tế:
Các quốc gia dẫn độ có thể đàm phán, ký kết bốn loại Điều ước quốc tế sau đây để hợp tác dẫn độ cho nhau:
- Các Điều ước quốc tế song phương và đa phương chuyên về dẫn độ;
- Các Điều ước quốc tế song phương và đa phương về tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ;
- Các Điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề về dân sự và hình sự có quy định nội dung dẫn độ;
- Các Điều ước quốc tế về đấu tranh phòng, chống tội phạm có quy định nội dung dẫn độ;
Trong số các Điều ước quốc tế nói trên các Điều ước quốc tế song phương và đa phương chuyên về dẫn độ là những Điều ước quốc tế quy định đầy đủ và chi tiết nhất các vấn đề pháp lý để thực hiện việc dẫn độ. Các Điều ước quốc tế là những cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng nhất để các nước hợp tác dẫn độ cho nhau khi có nhu cầu.
Về phương diện pháp lý quốc gia:
Tùy thuộc vào quan điểm chính trị, pháp lý của mỗi nước mà dẫn độ có thể được các quy định trong Luật Dẫn độ, Luật Tố tụng hình sự, Luật Tương trợ tư pháp quốc tế hoặc Luật Dẫn độ người nước ngoài. Tuy nhiên, hiện nay đa số các nước ban hành Luật Dẫn độ. Pháp luật quốc gia về dẫn độ là nguồn luật quy định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và cơ chế phối hợp thực hiện giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hợp tác dẫn độ với nước ngoài.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)