THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 24 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0121.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Dân sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2022] Xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam 2 B0121 xac dinh thiet hai do tinh mang bi xam pham theo quy dinh cua phap luat dan su 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0121-xac-dinh-thiet-hai-do-tinh-mang-bi-xam-pham-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-dan-su-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN | 2 |
| 1.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm | 2 |
| 1.1.2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng | 2 |
| 1.1.3. Yếu tố lỗi và năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại | 3 |
| 1.1.4. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại | 3 |
| 1.1.5. Xác định thiệt hại | 3 |
| 1.2. Một số vấn đề về cấp dưỡng | 4 |
| 1.2.1. Khái niệm | 4 |
| 1.2.2. Các nghĩa vụ cấp dưỡng cụ thể | 4 |
| 1.3. Người thuộc hàng thừa kế thứ nhất | 4 |
| CHƯƠNG II: XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI DO TÍNH MẠNG BỊ XÂM PHẠM THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM | 6 |
| 2.1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm | 6 |
| 2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng | 8 |
| 2.3. Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng | 9 |
| 2.4. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần | 11 |
| CHƯƠNG III: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI DO TÍNH MẠNG BỊ XÂM PHẠM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN GIẢI QUYẾT NHỮNG ĐIỂM CÒN VƯỚNG MẮC | 13 |
| 3.1. Xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm trong thực tiễn | 13 |
| 3.2. Một vài nguyên nhân dẫn đến vướng mắc trong việc xác định thiệt hại | 16 |
| 3.3. Một số kiến nghị giúp khắc phục những vướng mắc khi xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm | 17 |
| KẾT LUẬN | 19 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 20 |
LỜI MỞ ĐẦU
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định được ra đời từ sớm trong lịch sử pháp luật dân sự thế giới. Trong thực tế, không phải lúc nào các chủ thể cũng tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Khi có hành vi trái pháp luật xảy ra sẽ ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác, gây ra thiệt hại nhất định với mức độ nghiêm trọng khác nhau. Để đảm bảo sự công bằng cho người bị thiệt hại, pháp luật đã quy định về chế định bồi thường thiệt hại này để người gây ra thiệt hại bởi hành vi trái pháp luật của mình sẽ phải chịu trách nhiệm cho hành vi đó, thông qua việc chi trả những khoản chi phí hợp lý, tương ứng với những nghĩa vụ nhất định.
Việc xác định khoản bồi thường mà người gây ra thiệt hại phải chi trả trước hết phải dựa trên mức độ thiệt hại. Việc xác định thiệt hại là không dễ dàng vì cần căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau, trong mỗi trường hợp thì “lượng” bồi thường cũng sẽ khác đi. Trên cơ sở đó, pháp luật dân sự Việt Nam đã phân chia việc xác định thiệt hại thành: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm và thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Đối với mỗi loại, thiệt hại được xác định sẽ gồm nhiều khoản chi phí khác nhau, đặc biệt, đối với thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, do tính mạng con người rất quan trọng và quý giá nên việc bồi thường sẽ không chỉ dừng lại ở thiệt hại vật chất mà còn là tổn thất về tinh thần. Việc xác định thiệt hại trong thực tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Do đó, tại tiểu luận này, em xin trình bày về vấn đề: “Xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam”, tiếp đó là chỉ ra một vài khó khăn khi áp dụng vào các tình huống cụ thể và từ đó đề xuất một vài kiến nghị góp phần giải quyết những khó khăn này.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN
1.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.1. Khái niệm
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự theo đó, người vi phạm nghĩa vụ pháp lý gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra mà giữa người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có việc giao kết hợp đồng hoặc có hợp đồng nhưng hành vi thiệt hại không thuộc hành vi thực hiện hợp đồng.[17]
1.1.2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có các điều kiện:
Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản hoặc sự thiệt hại về tinh thần.
Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút về một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định.
Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tín nhiệm, lòng tín… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.
Thứ hai, có hành vi gây thiệt hại hoặc có sự kiện tài sản gây thiệt hại xảy ra trên thực tế. Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hiểu là hành vi mà pháp luật cấm, không cho phép được thực hiện. Bên cạnh đó còn có trường hợp thiệt hại do tài sản gây ra khi không có yếu tố tác động của hành vi con người.
Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại hay sự kiện tài sản gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi hay sự kiện tài sản và ngược lại hành vi, sự kiện đó là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
1.1.3. Yếu tố lỗi và năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trong trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại, vấn đề hình thức lỗi, mức độ lỗi ảnh hưởng rất ít đến việc xác định trách nhiệm. Thậm chí, người gây ra thiệt hại phải bồi thường ngay cả trong trường hợp không có lỗi (khoản 3 Điều 601, Điều 602 Bộ luật dân sự năm 2015). Tuy nhiên, trong nguyên tắc bồi thường thiệt hại, lỗi đóng vai trò trong việc giảm mức bồi thường hoặc xác định trường hợp không phải bồi thường. [18]
Bộ luật dân sự chỉ quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân mà không đề cập tới các chủ thể khác, tức là các chủ thể khác gây thiệt hại sẽ được coi là có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đối với mỗi cá nhân, năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phụ thuộc vào các yếu tố: mức độ năng lực hành vi dân sự, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân.[17]
1.1.4. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Dựa trên quy định tại Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015, việc bồi thường thiệt hại nêu trên phải tuân thủ các nguyên tắc:
(1) Bồi thường toàn bộ và kịp thời.
(2) Bên chịu trách nhiệm bồi thường được giảm mức bồi thường khi: không có lỗi hoặc lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
(3) Mức bồi thường có thể thay đổi khi không còn phù hợp với thực tế.
(4) Bên bị thiệt hại sẽ không được bồi thường nếu có lỗi trong việc gây thiệt hại hoặc thiệt hại xảy ra do họ không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại.
1.1.5. Xác định thiệt hại
Pháp luật dân sự không quy định cụ thể về “lượng” bồi thường trong từng trường hợp mà quy định về các loại thiệt hại và cách thức xác định một cách khái quát. Theo Bộ luật dân sự năm 2015, các loại thiệt hại phải bồi thường bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm và thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
1.2. Một số vấn đề về cấp dưỡng
1.2.1. Khái niệm
Theo khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này.”
1.2.2. Các nghĩa vụ cấp dưỡng cụ thể
Nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại khoản 1, Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:
“1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.”
Theo đó, việc cấp dưỡng được thực hiện trong những mối quan hệ sau:
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con, của con đối với cha, mẹ.
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em.
Nghĩa vụ cấp dưỡng của ông bà nội, ông bà ngoại với cháu; của cháu đối với ông bà nội, ông bà ngoại.
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cô, dì, chú, cậu, bác ruột với cháu ruột; của cháu ruột với cô, dì, chú, cậu, bác ruột.
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)