
- Trường học: Đại học Luật TP.HCM
- Điểm số: 8.50 điểm
- Số trang: 12 trang
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B1114 | Năm 2026
- Luật áp dụng: Bộ luật Hình sự 2015 (SĐ,BS 2017,2024,2025)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG: “Bài tập Luật Hình sự”
XEM TRƯỚC TRANG BÌA

XEM TRƯỚC MỤC LỤC

MỤC LỤC TIỂU LUẬN CHI TIẾT
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| ĐỀ BÀI | 1 |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 2 |
| PHẦN NỘI DUNG | 4 |
| Câu 1: Hãy định tội danh và khung hình phạt áp dụng cho cho T trong trường hợp này? (02 điểm) | 4 |
| Câu 2: Giả sử M không chết mà chỉ bị thương với tỉ lệ thương tật là 61% thì tội danh của M có thay đổi không? Tại sao? | 6 |
| Câu 3: Giả sử T mới chấp hành xong hình phạt tù về hành vi cướp tài sản, chưa được xóa án tích thì lần phạm tội này của T được xác định là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? (02 điểm) | 8 |
| KẾT LUẬN | 10 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 12 |
ĐỀ BÀI
Vào khoảng 6 giờ tối ngày 06/09/2022, khi T đi làm về nhà thì bắt gặp M đang thực hiện hành vi hiếp dâm vợ của T là chị H nên T đã xuống bếp lấy một con dao bầu đứng chặn ở cửa ra vào và hô hoán mọi người. Thấy vậy, M đã cầm mũ bảo hiểm xe máy có trong phòng chạy tới giơ lên đập liên tiếp vào vùng đầu của T để thoát ra ngoài thì bị T đâm 02 nhát vào bụng dẫn đến tử vong tại chỗ. Hỏi:
1. Hãy định tội danh và khung hình phạt áp dụng cho T trong trường hợp này?
2. Giả sử M không chết mà chỉ bị thương với tỉ lệ thương tật là 61% thì tội danh của M có thay đổi không? Tại sao?
3. Giả sử T mới chấp hành xong hình phạt tù về hành vi cướp tài sản, chưa được xóa án tích thì lần phạm tội này của T được xác định là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?
LỜI MỞ ĐẦU
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ pháp lý quan trọng và sắc bén nhất của Nhà nước trong việc bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời góp phần duy trì trật tự, an toàn xã hội. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ luật Hình sự không chỉ có chức năng trừng trị người phạm tội mà còn mang ý nghĩa giáo dục, phòng ngừa và định hướng hành vi xử sự cho mọi công dân trong xã hội. Thông qua việc xác định rõ những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định chế tài tương ứng, pháp luật hình sự góp phần xây dựng một môi trường sống an toàn, công bằng và nhân văn.
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt là các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm con người. Bên cạnh những trường hợp phạm tội do động cơ đê hèn, do mâu thuẫn cá nhân hoặc vì mục đích vụ lợi, thực tiễn xét xử còn ghi nhận không ít trường hợp người thực hiện hành vi gây thiệt hại xuất phát từ mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Đây chính là cơ sở hình thành chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự, một chế định thể hiện rõ tính nhân đạo, công bằng và hợp lý của pháp luật.
Phòng vệ chính đáng là quyền của công dân được pháp luật ghi nhận, cho phép họ chống trả lại hành vi xâm phạm đang diễn ra nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp mà không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, ranh giới giữa phòng vệ chính đáng và hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng trên thực tế nhiều khi rất mong manh, khó xác định. Việc đánh giá thế nào là “chống trả cần thiết” và thế nào là “chống trả quá mức cần thiết” đòi hỏi phải xem xét toàn diện các yếu tố như tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, phương tiện, công cụ được sử dụng, diễn biến tâm lý của người phòng vệ và hoàn cảnh cụ thể tại thời điểm xảy ra sự việc.
Nếu vượt quá giới hạn này, người thực hiện hành vi vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù mục đích ban đầu là chính đáng.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu các tình huống pháp lý liên quan đến chế định phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Thông qua việc phân tích cấu thành tội phạm, xác định tội danh và khung hình phạt trong từng trường hợp cụ thể, người học không chỉ nắm vững quy định của pháp luật mà còn rèn luyện kỹ năng tư duy pháp lý, kỹ năng vận dụng pháp luật vào thực tiễn.
Xuất phát từ những ý nghĩa đó, nhóm chúng em lựa chọn Đề số 03 để nghiên cứu và giải quyết. Trên cơ sở các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nhóm sẽ tiến hành phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, làm rõ căn cứ xác định tội danh và khung hình phạt đối với T trong từng giả định của đề bài; đồng thời xem xét vấn đề tái phạm theo quy định của pháp luật hiện hành. Qua bài tiểu luận này, nhóm mong muốn góp phần làm sáng tỏ hơn cách áp dụng các quy định pháp luật trong thực tiễn, cũng như nâng cao nhận thức về giới hạn pháp lý của quyền phòng vệ chính đáng trong đời sống xã hội.
Câu 1: Hãy định tội danh và khung hình phạt áp dụng cho cho T trong trường hợp này? (02 điểm)
Trong trường hợp này T phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định tại khoản 2 Điều 22 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung):
“Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ tội phạm là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà đã chống trả lại một cách rõ ràng là quá mức hoặc vượt quá mức cần thiết làm cho người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nêu trên bị chết hoặc hành vi của người khi bắt giữ người phạm tội áp dụng các biện pháp vượt quá mức cần thiết làm cho người bị bắt giữ chết.”
Các dấu hiệu CTTP của tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là:
- Dấu hiệu hành vi: Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Để coi hành vi nào đó là hành vi phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải xác định được người phạm tội có quyền phòng vệ chính đáng và trong quá trình thực hiện quyền phòng vệ chính đáng đã thực hiện hành vi quá mức cần thiết, giết chết người có hành vi xâm hại. Cụ thể như sau:
Nạn nhân đã có hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, quyền và lợi ích chính đáng của người khác.
Vào thời điểm xảy ra sự việc, sự xâm hại các lợi ích hợp pháp của nạn nhân đang gây thiệt hại hoặc đang đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích hợp pháp cần bảo vệ.
Hành vi của người phạm tội xuất phát từ việc thực hiện quyền phòng vệ chính đáng gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại.
Trong quá trình thực hiện quyền phòng vệ chính đáng, người phạm tội đã chống trả một cách quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại, gây ra cái chết cho nạn nhân.
- Dấu hiệu lỗi: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Động cơ phạm tội là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác hoặc động cơ bắt giữ người phạm tội. Đây là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
- Dấu hiệu chủ thể: Chủ thể của tội phạm này có thể là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự
- Dấu hiệu khách thể: Xâm phạm quyền sống của người khác
- Dấu hiệu hậu quả: Hậu quả của tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phạm là gây chết người. Tội phạm hoàn thành khi hậu quả chết người xảy ra.
Ở đây trong tình huống trên, Hành vi T đâm 02 nhát vào bụng dẫn đến M tử vong tại chỗ, đặt trong bối cảnh:
- T đi làm về nhà thì bắt gặp M đang thực hiện hành vi hiếp dâm vợ của T là chị H.
Do đó, M đã có hành vi xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của chị H.
- T đã xuống bếp lấy một con dao bầu đứng chặn ở cửa ra vào và hô hoán mọi người. Có thể thấy T không có ý định giết M vì nếu có thì T đã xông vào đâm M. Ở đây, T chỉ cầm dao làm vật phòng thân, đứng chặn ở cửa để ngăn M tháo chạy và đã hô hoán mọi người nhằm vây bắt M.
- M đã cầm chiếc mũ bảo hiểm xe máy có trong phòng chạy tới giơ lên đập liên tiếp vào vùng đầu của T nhằm thoát thân => M đã có hành vi sử dụng chiếc mũ bảo hiểm là vật cứng để đập liên tiếp vào vùng trọng yếu là đầu – hành vi này có khả năng cao gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khoẻ của T. Vậy nên T vì phòng vệ chính đáng mới dùng dao để đâm M (trước đó T chưa từng chủ động muốn sử dụng dao để gây thương tích cho M. Chỉ khi M thực hiện hành vi đánh liên tiếp vào đầu T thì T mới đâm M).
Tuy nhiên , hành động của T:
- T dùng dao để phòng vệ trong khi M chỉ dùng mũ bảo hiểm để tấn công nên mức độ thiệt hại M có thể gây ra sẽ thấp hơn mức thiệt hại khi T phòng vệ.
- T đâm hai nhát vào vùng ổ bụng của M. Đây được xem là vùng trọng yếu của cơ thể. Trong trường hợp này, T có thể dừng lại không đâm nhát thứ hai nên việc T đâm hai nhát thể hiện sự phòng vệ quá mức cần thiết. Điều đó đã dẫn đến việc M tử vong tại chỗ => mức độ hành vi phòng vệ của T đã trở nên vượt quá giới hạn gây ra hậu quả chết người.
- Chủ thể: T – người có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Khách thể: Xâm phạm tính mạng và sức khỏe của M.
- Hậu quả và mối quan hệ nhân quả : hành vi đâm của T dẫn đến M tử vong.
- Lỗi: Cố ý. Động cơ: bảo vệ bản thân khỏi sự tấn công của M – phòng vệ chính đáng. Tuy nhiên đã chống trả một cách quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại, gây ra cái chết cho M.
Kết luận:
T phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định tại khoản 1 Điều 126 BLHS năm 2015.
Khung hình phạt áp dụng dành cho T trong trường hợp này là: Phạt cải tạo không giam giữ 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 12 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 29.000 VNĐ!
