THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 41 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0055.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Đặt vấn đề | 1 |
| 2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu | 2 |
| 3. Kết cấu đề tài | 2 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN | 3 |
| 1.1. Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài | 3 |
| 1.1.1. Khái niệm | 3 |
| 1.1.2. Mục đích | 4 |
| 1.1.3. Yêu cầu | 5 |
| 1.2. Quy định về bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam | 6 |
| CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU 423 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 | 8 |
| 2.1. Vấn đề về làm rõ khái niệm | 8 |
| 2.1.1. Tòa án | 8 |
| 2.1.2. Bản án | 9 |
| 2.1.3. Quyết định | 11 |
| 2.2. Vấn đề về các loại bản án, quyết định dân sự có thể được xem xét công nhận và cho thi hành trong pháp luật Việt Nam | 12 |
| 2.3. Vấn đề về bản án, quyết định dân sự không thể trở thành đối tượng công nhận và cho thi hành trong pháp luật Việt Nam | 17 |
| CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI | 19 |
| 3.1. Bài học kinh nghiệm của Singapore | 19 |
| 3.2. Bài học kinh nghiệm của Đức | 19 |
| 3.3. Bài học kinh nghiệm của Nhật Bản | 20 |
| 3.4. Bài học kinh nghiệm của Thái Lan | 21 |
| 3.5. Bài học kinh nghiệm của Hoa Kỳ | 22 |
| 3.6. Công ước La Hay năm 2019 | 22 |
| 3.7. Văn kiện trong khuôn khổ EU | 23 |
| CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP | 25 |
| 4.1. Định nghĩa rõ ràng thế nào là “bản án”, “quyết định dân sự” | 25 |
| 4.2. Gia nhập Công ước La Hay năm 2019 | 25 |
| 4.3. Thiết lập khuôn khổ pháp lý đầy đủ về việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án giữa các nước thành viên ASEAN | 26 |
| 4.4. Xây dựng khuôn khổ pháp lý cho việc Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để hỗ trợ Tòa án nước ngoài | 27 |
| 4.5. Thực hiện tốt nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, trung thực, cùng có lợi về việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài | 28 |
| 4.6. Tăng cường năng lực của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài đặc biệt là pháp luật giữa các nước thành viên ASEAN trong quá trình giải quyết các vụ việc xin công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự | 29 |
| KẾT LUẬN | 31 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 33 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Vấn đề hài hòa hóa luật pháp và các quy tắc tố tụng đang là đề tài được quan tâm tại các quốc gia ASEAN và đã được đưa ra thảo luận tại Hội thảo của Chánh án Tòa án các nước ASEAN[1]. Một trong những biện pháp để hài hóa hóa pháp luật về nội dung cũng như tố tụng là tiến hành việc xem xét, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án. Đây không chỉ là xu thế trong khu vực mà còn là xu thế trên thế giới khi rất nhiều quốc gia phát triển đã tham gia các điều ước quốc tế song phương và đa phương về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trên lãnh thổ của mình[2].
Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động tương trợ tư pháp, một thủ tục đặc biệt của hoạt động Tố tụng dân sự quốc tế. Thực tiễn hiện nay cho thấy, số lượng các bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài cần được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam ngày càng tăng, điều đó dẫn đến nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia để thỏa thuận công nhận và cho thi hành tại lãnh thổ của nhau các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là một nhu cầu tất yếu khách quan.
Tuy nhiên, đây là một vấn đề còn khá mới mẻ, cả về mặt quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thi hành. Điển hình như là Điều 423 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam đã không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là “bản án, quyết định dân sự”. Việc có quy định chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng như vậy dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trên thực tế, chưa đảm bảo được quyền và lợi ích của các bên đương sự và thậm chí chưa phù hợp với cam kết quốc tế. Mặt khác, cơ chế pháp lý khi giải quyết các yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là lĩnh vực có nhiều phức tạp, bởi vì nó liên quan đến chủ quyền quốc gia, liên quan đến quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ dân sự.
Thấy được tính cấp thiết cũng như tầm quan trọng của vấn đề này, em quyết định chọn đề tài: “Bản án, quyết định dân sự được công nhận và cho thi hành theo điều 423 Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015” để đi sâu nghiên cứu.
2. Mục đích và phương pháp nghiên cứu
– Mục đích nghiên cứu: Đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; Phân tích, đánh giá những vấn đề trong quy định của Điều 423 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; So sánh với pháp luật nước ngoài và các văn kiện quốc tế; Trên cơ sở nghiên cứu, nêu lên quan điểm cá nhân và đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh về vấn đề này.
– Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, bài luận đã tổng hợp, thống nhất, đúc kết và mở rộng những kiến thức đã tích lũy trong suốt quá trình học tập, kết hợp giữa việc tổng hợp sách báo, tài liệu với việc đi sâu vào phân tích thực tiễn, tham khảo ý kiến, sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, xã hội học, thu thập số liệu thống kê, tổng hợp và so sánh, phân tích, đánh giá, kết hợp với các phương pháp tư duy logic, phương pháp phân tích số liệu và phương pháp biện chứng nhằm tìm ra hướng đi hợp lý và hiệu quả nhất.
3. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, lời cảm ơn và tài liệu tham khảo, nội dung bài tiểu luận gồm 4 chương cụ thể như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản
Chương 2. Phân tích những vấn đề trong quy định của Điều 423 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Chương 3. Bài học kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới
Chương 4. Quan điểm cá nhân và kiến nghị giải pháp.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1. Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
1.1.1. Khái niệm
“Công nhận” là sự thừa nhận trước mọi người một điều gì đó là phù hợp với sự thật, với lẽ phải hoặc với thể lệ, luật pháp. Còn “thi hành” là việc làm cho điều gì đó trở thành có hiệu lực, được thực thi trên thực tế[3].
Hai thuật ngữ “công nhận” và “thi hành” bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài thường được sử dụng cùng nhau, tuy nhiên trên thực tế chúng có thể sử dụng một cách riêng rẽ. Hai thuật ngữ này mặc dù có sự gắn bó phụ thuộc lẫn nhau nhưng cũng có thể được sử dụng với những hàm ý khác nhau. Trong trường hợp bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được tự nguyện thi hành thì nó có thể có trường hợp chỉ cần công nhận mà không cần thi hành. Trong khi đó một bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không chỉ là việc công nhận hiệu lực của bản án, quyết định dân sự mà bao gồm cả việc đưa bản án, quyết định dân sự đó vào cuộc sống. Do đó có thể hiểu khái niệm công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài theo nghĩa tổng thể là bao gồm cả công nhận và thi hành, nhưng cũng có thể hiểu theo nghĩa tách biệt là khái niệm công nhận và khái niệm thi hành.
Để hiểu rõ khái niệm công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, cần làm rõ bản chất của hoạt động đó. Sự công nhận được sử dụng để ngăn ngừa trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn tiếp tục khởi kiện về vụ việc đã được Tòa án giải quyết. Trong khi đó việc thi hành lại đóng vai trò như một công cụ hữu hiệu để buộc bên bị thi hành phải thực hiện những hành vi bất lợi cho mình mà bên đó đã không tự nguyện thi hành.
Từ những điều đã được trình bày ở trên, có thể đưa ra định nghĩa về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài như sau:
Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là hành vi pháp lý của quốc gia thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của mình chính thức thừa nhận sự tồn tại, giá trị pháp lý của bản án, quyết định dân sự của Tòa án một quốc gia khác và làm cho bản án, quyết định dân sự đó có hiệu lực bắt buộc thi hành trên lãnh thổ nước mình.
1.1.2. Mục đích
Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là cần thiết khách quan và nhằm mục đích to lớn trên các phương diện sau:
Thứ nhất, về phương diện chính trị, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài góp phần thúc đẩy sự phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia. Sự công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài cũng thể hiện sự tôn trọng, thiện chí của quốc gia này đối với quốc gia khác, thể hiện chính sách bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp không chỉ của các cá nhân, tổ chức nước mình mà còn cả lợi ích của các cá nhân, tổ chức nước ngoài. Việc công nhận và cho thi hành còn nhằm mục đích thể hiện quyền tài phán độc lập của một quốc gia, không một quốc gia, một tổ chức quốc tế nào có thể ép buộc một quốc gia, một tổ chức quốc tế khác công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước mình.
Thứ hai, về phương diện kinh tế, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia, thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, các bên cùng có lợi, hạn chế các hành vi thỏa thuận, vi phạm hợp đồng, tạo tâm lý an toàn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra việc công nhận và cho thi hành còn là cơ sở để Tòa án có thẩm quyền của các quốc gia khác công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước mình trên nguyên tắc có đi có lại. Mặt khác cũng làm giảm chi phí tố tụng, thủ tục tố tụng để thực thi các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.
Thứ ba, về phương diện xã hội, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài góp phần duy trì trật tự, ổn định các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng.
Thứ tư, về phương diện pháp luật, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là một giai đoạn của quá trình tố tụng, nếu các phán quyết của Tòa án nước ngoài không được thực thi thì kết quả ở giai đoạn trước đó sẽ không còn ý nghĩa. Không những vậy, việc công nhận và cho thi hành còn góp phần khắc phục các lỗ hổng của pháp luật quốc gia về vấn đề này, pháp luật giữa các quốc gia có cơ hội được so sánh trực tiếp với nhau, từ đó có những sơ hở của pháp luật các quốc gia được củng cố, đảm bảo cho pháp luật quốc gia có tính hệ thống. Đây còn là một căn cứ pháp luật quan trọng để xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các yêu cầu giải quyết khi có vụ việc của đương sự.
1.1.3. Yêu cầu
Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài chỉ đặt ra khi có yêu cầu. Các nước sẽ chỉ đặt ra việc xem xét công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại nước mình nếu có yêu cầu của đương sự có liên quan hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước đã ra bản án, quyết định đó. Theo các Hiệp định tương trợ tư pháp, đơn yêu cầu có thể gửi qua hai kênh:
– Qua kênh ngoại giao hoặc qua cơ quan tư pháp có thẩm quyền: Theo đó, các cơ quan tư pháp đã tuyên bản án, quyết định có thể trực tiếp hoặc thông qua cơ quan trung ương chuyển đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành cho cơ quan có thẩm quyền của bên ký kết kia (Hiệp định tương trợ tư pháp với Hungary, Bunggary,…);
– Các đương sự trực tiếp gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành[4].
Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam còn đảm bảo quyền yêu cầu của đương sự[5], họ có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyền rút yêu cầu; quyền kháng cáo quyết định công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. Tuy nhiên, vấn đề về quyền sửa đổi, bổ sung, trả lại đơn yêu cầu và khiếu nại, giải quyết khiếu nại vẫn chưa được pháp luật Việt Nam quy định cụ thể.
1.2. Quy định về bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
Theo Điều 423 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
Thứ nhất, bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài được quy định tại điều ước quốc tế mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
Thứ hai, bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại;
Thứ ba, bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành.
Ngoài ra, quyết định về nhân thân, hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài cũng được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam như bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này.
[1] Tham khảo Đề cương tham chiếu, Nhóm công tác Hội nghị Chánh án về Hội nhập ASEAN, Hội nghị lần thứ 3 tại Philippines.
[2] Công ước Brussels (Brussels Convention), Quy định về quan hệ giữa Tòa án các nước EU và Đan Mạch, http://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=URISERV%3Al33054 (truy cập ngày 23/01/2024).
Công ước Lugano Vương quốc Anh (Lugano Convention), Công nhận và thi hành bản án của các nước thành viên, http://curia.europa.eu/common/recdoc/convention/en/c-textes/lug-idx.htm (truy cập ngày 23/01/2024).
[3] NXB Hồng Đức, GS. Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt.
[4] Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, https://moj.gov.vn/tttp/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=33 (truy cập ngày 24/01/2024).
[5] Điều 425 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:
“Điều 425. Quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
- Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu.
- Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.
- Đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.”
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0055″]
