![[Tiểu luận 2025] Bình luận Bản án 19/2021/DT-ST ngày 23/06/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Huế về tranh chấp hợp đồng vay tài sản [Tiểu luận 2025] Bình luận Bản án 19/2021/DT-ST ngày 23/06/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Huế về tranh chấp hợp đồng vay tài sản](https://cdn.tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2025/01/binh-luan-ban-an-19-2021-dt-st-ngay-23-06-2021-tand-tp-hue-ve-tranh-chap-hop-dong-vay-tai-san-1.png)
THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 10 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
- Năm: 2025 / Mã số: B0562.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| PHẦN I. TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP | 1 |
| PHẦN II. BÌNH LUẬN | 4 |
| 2.1. Thời hiệu khởi kiện | 4 |
| 2.2. Giá trị pháp lý của hai văn bản “giấy vay tiền” và nghĩa vụ trả nợ | 4 |
| 2.3. Vấn đề pháp lý về việc xét xử vắng mặt bị đơn | 6 |
| 2.4. Về trách nhiệm liên đới | 7 |
| 2.5. Việc toà án yêu cầu bị đơn trả nợ bằng tiền tương ứng với giá trị vàng | 8 |
| KẾT LUẬN | 9 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 10 |
TÓM TẮT BẢN ÁN
Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Vân A, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn NT, xã PT, huyện PV, tỉnh Thừa Thiên Huế; Địa chỉ liên lạc: 28 Đường L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế – Bên cho vay
Bị đơn: Bà Lê Thị Lệ T; sinh năm: 1965; Nơi cư trú: Số 05A/87 Đường NH, phường PN, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú cuối cùng: Số 30/8 tổ 13, khu phố 3C, phường TL, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh – Bên vay
Vụ án dân sự thụ lý số: 15/2011/TLST- DS ngày 02 tháng 3 năm 2011
Ngày 25/4/2008, bà Lê Thị Lệ T có vay của bà Hồ Thị Vân A số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), bà T có viết giấy vay tiền và hẹn sẽ trả trước ngày 22/4/2009.
Ngày 26/5/2008, bà Lê Thị Lệ T tiếp tục vay thêm của bà 11 (mười một) chỉ vàng 9999 hiệu Duy Mong, bà T có viết giấy mượn tiền và hẹn sau khi tất toán tiền Ngân hàng (300.000.000 đồng) sẽ trả dần số vàng trên cho bà A. Tại giấy vay tiền ngày 26/5/2008 của bà T có ký nhận nợ và có đóng dấu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên N, thực ra khi bà cho bà T vay số vàng trên là do cá nhân bà T vay chứ không phải là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên N vay. Qua kết quả xác minh tại Sở kế hoạch Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, Chi cục thuế thành phố H thì Công ty TNHH một thành viên N có đăng ký hoạt động kinh doanh, có tư cách pháp nhân theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3104000081 do Sở kế hoạch đầu tư cấp ngày 19/11/2007 (đăng ký thay đổi ngày 16/4/2008). Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH một thành viên N là bà Lê Thị Lệ T, chức vụ giám đốc. Về tình trạng hoạt động của Công ty, qua kiểm tra trên hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp Quốc gia thì hiện nay đang hoạt động. Tuy nhiên, về thực tế Chi cục thuế thành phố H đã phát hành thông báo bỏ kinh doanh số 1698/TB-CCT ngày 08/11/2012 đối với Công ty TNHH một thành viên N. Qua kiểm tra số nợ thuế của Công ty TNHH một thành viên N trên phần mềm quản lý thuế tập trung còn nợ 77.614.942đồng (trong đó là nợ thuế chưa nộp vào ngân sách Nhà nước và số tiền phạt chậm nộp thuế đến ngày 10/5/2018). Căn cứ nội dung xác minh trên, thì hiện nay Công ty TNHH một thành viên N đã ngừng hoạt động. Nên bà T phải chịu trách nhiệm trả nợ số vàng trên cho bà A và ông Q.
Theo lời khai của bà Hồ Thị Vân A: Khi vay mượn bà T có thỏa thuận trả lãi của số vàng 11 chỉ là 300.000 đồng/ tháng, quá trình vay mượn có trả tiền lãi khoảng 3 đến 5 tháng. Đối với số tiền 20.000.000 đồng thì thỏa thuận trả lãi theo lãi suất của Ngân hàng 1.1%/ tháng, nhưng chưa trả tháng tiền lãi nào. Tuy nhiên, trong quá trình thu thập chứng cứ, bà A không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh việc thỏa thuận lãi và việc bà T có trả lãi.
Đến hạn thanh toán theo giấy vay giữa bà T và bà A, bà T không trả theo đúng thoả thuận.
Yêu cầu của nguyên đơn: Ngày 05/7/2010, bà Hồ Thị Vân A làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Huế buộc bà T phải trả cho bà số tiền 20.000.000 đồng và 11 (mười một) chỉ vàng 9999 hiệu vàng Duy Mong và tiền lãi theo lãi suất của Ngân hàng Nhà Nước.
Tuy nhiên, tại phiên tòa ngày 23 tháng 6 năm 2021, bà A đề nghị Hội đồng xét xử buộc vợ chồng bà Lê Thị Lệ T và ông Trương Văn H liên đới chịu trách nhiệm trả cho vợ chồng bà số tiền 20.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật; đối với 11 chỉ vàng 9999 hiệu Duy Mong thì bà A chỉ yêu cầu vợ chồng bà T trả lại cho vợ chồng bà số vàng trên mà không yêu cầu trả lãi. Vì tài sản trên là tài sản chung của vợ chồng bà nên bà A đề nghị vợ chồng bà T phải trả cho vợ chồng bà A và ông Q.
Các tài liệu chứng cứ do bà A cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm: 01 giấy mượn tiền đề ngày 25/4/2008; 01 giấy giấy mượn tiền ngày 26/5/2008. Trong toàn bộ giai đoạn từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử năm 2018, bà Lê Thị Lệ T và người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn H (chồng bà T) không có mặt tại số nhà 05A/87 Đường NH, phường PN, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và sau nhiều lần các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra cũng không thể xác định vợ chồng bà T hiện đang tạm trú tại đâu. Toà án đã tiến hành đăng thông báo trên báo tuổi trẻ; Thông báo trên Đài truyền hình Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng với nội dung thông báo cho bà T và ông H về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia tố tụng tại phiên toà.
Tại phiên toà ngày 23 tháng 6 năm 2021, bà Lê Thị Lệ T và chồng vẫn tiếp tục vắng mặt.
Quyết định của Toà án:
– Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Vân A. Buộc bà Lê Thị Lệ T phải trả cho bà Hồ Thị Vân A và ông Nguyễn Chí Q tổng số tiền là 100.855.400đồng (Một trăm triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn bốn trăm đồng). (Trong đó: 20.000.000đồng tiền gốc + giá trị 11 (Mười một) chỉ vàng 9999 hiệu Duy Mong là 56.518.000đồng + lãi chậm trả đối với số tiền 20.000.000đồng là 24.337.400 đồng).
– Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần lãi của 11 (Mười một) chỉ vàng 9999 hiệu vàng Duy Mong.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |
