THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 25 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0170.
- Pháp luật áp dụng: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009 và 2019)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ SÁNG CHẾ | 2 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm sáng chế | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm sáng chế | 2 |
| 1.1.2. Đặc điểm sáng chế | 2 |
| 1.2. Khái niệm và đặc điểm bảo hộ sáng chế | 3 |
| 1.2.1. Khái niệm bảo hộ sáng chế | 3 |
| 1.2.2. Đặc điểm bảo hộ sáng chế | 3 |
| CHƯƠNG II: ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG 2009 VÀ 2019) | 4 |
| 2.1. Tính mới của sáng chế | 4 |
| 2.2. Trình độ sáng tạo của sáng chế | 6 |
| 2.3. Khả năng áp dụng công nghiệp | 8 |
| CHƯƠNG III: THỰC TIỄN THỰC HIỆN, ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ Ở VIỆT NAM | 10 |
| 3.1. Thực tiễn về vấn đề sáng chế | 10 |
| 3.2. Đánh giá việc bảo hộ đối với sáng chế | 11 |
| 3.2.1. Ưu điểm | 11 |
| 3.2.2. Nhược điểm | 11 |
| 3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với sáng chế ở Việt Nam | 12 |
| 3.3.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản về điều kiện bảo hộ sáng chế | 12 |
| 3.3.2. Nâng cao nhận thức về bảo hộ quyền công nghiệp đối với sáng chế | 13 |
| 3.3.3. Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao các hoạt động hỗ trợ, bổ trợ, hợp tác quốc tế | 14 |
| 3.3.4. Tăng cường hiệu quả của hệ thống cơ quan nhà nước có thẩm quyền về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế | 17 |
| KẾT LUẬN | 19 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 20 |
LỜI MỞ ĐẦU
Sáng chế được xem là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, được bảo hộ sớm nhất với đạo luật năm 1474 được ban hành tại Venice, đây được coi là đạo luật đầu tiên về sáng chế trên Thế giới. Sau này, các đạo luật hiện đại về bảo hộ sáng chế cũng được ra đời ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Pháp… Hiện nay, sáng chế đóng vai trò là một trong những đối tượng rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, việc bảo hộ sáng chế sẽ giúp cho các tác giả sáng chế có thể bù đắp công sức, chi phí và sự sáng tạo của mình. Đồng thời, đây chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của Khoa học – Công nghệ, đúng như Abraham Lincohn đã từng nói “Hệ thống bằng độc quyền sáng chế đổ thêm dầu lợi ích vào ngọn lửa thiên tài”. Bên cạnh đó, nói về sự quan trọng của sáng chế đối với sự phát triển của xã hội thì Tổng giám đốc của quỹ tiền tệ quốc tế IMF bà Christine Lagarde đã từng khẳng định rằng: “sáng chế là vitamin của xã hội”. Chính vì lẽ đó, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay khi mà nền kinh tế đang có bước chuyển mình mạnh mẽ sang thời kỳ hậu công nghiệp, nền kinh tế tri thức đang ngày một được hình thành thì những vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và và bảo hộ sáng chế nói riêng càng quan trọng. Có thể nói số lượng đơn đăng kí bảo hộ sáng chế và số bằng sáng chế đã được cấp trở thành một tiêu chí để đánh giá trình độ phát triển khoa học công nghệ cũng như khả năng cạnh tranh của nền kinh tế của mỗi quốc gia. Với ý nghĩa thực tiễn và lí luận quan trọng đó, tác giả chọn đề tài “Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế theo quy định của luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009 và 2019) và một số kiện nghị”, để làm bài thi kết thúc học phần môn Luật Sở hữu trí tuệ.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ SÁNG CHẾ
1.1. Khái niệm và đặc điểm sáng chế
1.1.1. Khái niệm sáng chế
Dưới góc độ pháp luật quốc tế, Sáng chế với tên tiếng anh là Invention, theo tài liệu do WIPO phát hành được định nghĩa: “Sáng chế là sản phẩm mới hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật” [1].
Dưới góc độ khoa học pháp lý, Từ điển Luật học có định nghĩa: “Sáng chế được hiểu là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có tính sáng tạo và khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội” [2, Tr.665]. Ngoài ra, theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật mang tính mới về nguyên lý kỹ thuật, sáng tạo và áp dụng được” [3].
Dưới góc độ pháp lý hiện hành, Ngày 29/11/2005, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã được ban hành tại Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Sáng chế là biện pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một số vấn đề xác định băng việc ứng dụng các quy trình tự nhiên”.
1.1.2. Đặc điểm sáng chế
Thứ nhất, Sáng chế là giải pháp kỹ thuật phải giải quyết được một vấn đề cụ thể bằng việc áp dụng các quy luật tự nhiên.
Sáng chế trước hết phải là giải pháp kỹ thuật, có nghĩa là biện pháp kỹ thuật nhằm giải quyết một vấn đề xác định. Giải pháp kỹ thuật có thể dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhưng do con người tạo ra chứ không phải là những gì tồn tại ở tự nhiên và được con người phát hiện ra.
Thứ hai, Sáng chế có thể tồn tại dưới hai dạng: sản phẩm hoặc quy trình.
Sáng chế có thể thuộc một trong những dạng sau: (i) Sản phẩm bao gồm: Sản phẩm dưới dạng vật thể (dụng cụ, máy móc, thiết bị…), sản phẩm dưới dạng chất thể (vật liệu, chất liệu, thực phẩm,…), sản phẩm dưới dạng vật liệu sinh học (gen, thực vật/ động vật biến đổi gen…); (ii) Quy trình gồm: quy trình công nghệ; phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra, xử lý,…
Thứ ba, Sáng chế có khả năng áp dụng trực tiếp vào sản xuất và đời sống, nó có giá trị thương mại và mang lại lợi ích kinh tế cho chính chủ sở hữu của sáng chế.
Trên cơ sở sáng tạo, sức lao động bỏ ra, sáng chế với những giải pháp kỹ thuật được hình thành và bảo hộ được áp dụng trực tiếp vào sản xuất và đời sống thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, đồng thời nó cũng đem lại giá trị kinh tế cho chính chủ sở hữu sáng chế, bởi họ chính là “nhà phát minh” ra sáng chế.
1.2. Khái niệm và đặc điểm bảo hộ sáng chế
1.2.1. Khái niệm bảo hộ sáng chế
Bảo hộ sáng chế là việc nhà nước thừa nhận một sáng chế là đối tượng sở hữu của một chủ thể (cá nhân, tổ chức) nhất định, được đánh dấu bằng việc cấp một bằng sáng chế cho chủ sở hữu sáng chế đó [4]. Một hệ thống bảo hộ sáng chế bao gồm rất nhiều yếu tố như chính sách, các điều kiện về kinh tế, công nghệ, môi trường pháp lý, hệ thống cơ quan thực thi quyền Sở hữu trí tuệ…
1.2.2. Đặc điểm bảo hộ sáng chế
Thứ nhất, để được pháp luật bảo hộ, giải pháp kỹ thuật phải được nhà nước cấp văn bằng bảo hộ. Nhà nước chỉ có nghĩa vụ bảo hộ các sáng chế đã được cấp văn bằng bảo hộ. Để được cấp văn bằng bảo hộ, giải pháp kỹ thuật phải đáp ứng ít nhất hai điều kiện: điều kiện về tiêu chuẩn bảo hộ (tiêu chuẩn sáng chế và không thuộc các trường hợp không được pháp luật bảo hộ[5].
Thứ hai, chủ sở hữu sáng chế chỉ được thực hiện các quyền của mình trong phạm vi (phạm vi lãnh thổ, phạm vi quyền được thể hiện trong yêu cầu bảo hộ, thời hạn bảo hộ) được xác định trong văn bằng bảo hộ. Ngoài phạm vi đó, bất cứ ai trong xã hội cũng có quyền khai thác sáng chế mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu sáng chế[5].
Thứ ba, trong những trường hợp được pháp luật quy định, nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế người nắm độc quyền sáng chế thực hiện quyền của mình hoặc bắt buộc người nắm độc quyền sáng chế chuyển giao quyền sử dụng sảng chế cho chủ thể khác[5].
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/dieu-kien-bao-ho-doi-voi-sang-che-theo-quy-dinh-cua-luat-so-huu-tri-tue/
