THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 21 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0153.
- Pháp luật áp dụng: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| Mục lục | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ SÁNG CHẾ VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ | 2 |
| 1.1. Khái quát chung về sáng chế | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm | 2 |
| 1.1.2. Đặc điểm của sáng chế | 3 |
| 1.2. Khái quát chung về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế | 4 |
| 1.2.1. Khái niệm điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế | 4 |
| 1.2.2. Vai trò của điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế | 4 |
| CHƯƠNG II: ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH | 6 |
| 2.1. Tính mới | 6 |
| 2.2. Có trình độ sáng tạo | 7 |
| 2.3. Có khả năng áp dụng công nghiệp | 8 |
| CHƯƠNG III: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ SÁNG CHẾ | 10 |
| 3.1. Những kết quả đạt được | 10 |
| 3.1. Những tồn tại, hạn chế | 10 |
| CHƯƠNG IV: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ SÁNG CHẾ | 13 |
| 4.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về điều kiện bảo hộ sáng chế | 13 |
| 4.2. Tăng cường hiệu quả của hệ thống cơ quan nhà nước có thẩm quyền về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế | 15 |
| 4.3. Nâng cao nhận thức về bảo hộ quyền công nghiệp đối với sáng chế | 15 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, vấn đề bảo hộ sáng chế đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia. Đặc biệt, khi sáng chế được coi là một tiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh của một đất nước. Đối với Việt Nam Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và chú trọng phát triển khoa học và công nghệ, yếu tố này là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặc dù là nước đang phát triển nhưng do được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, tiềm lực khoa học và công nghệ đã được tăng cường, đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh.
Một năm tại Việt Nam có rất nhiều sáng chế được công bố và đưa và sử dụng. Trong thời kỳ hiện nay, với trình độ đạo nhái sản phẩm cũng như sáng chế ngày càng tinh vi và phức tạp, do đó, để bảo vệ cho sáng chế của mình được độc quyền trên thị trường thì tác giả, chủ sở hữu sáng chế phải thực hiện thủ tục đăng ký bảo hộ sáng chế tại Cơ quan có thẩm quyền về sở hữu công nghiệp. Việc bảo hộ đối với sáng chế nó tạo ra động lực kích thích phát triển kinh tế, công nghệ và thúc đẩy cạnh tranh thông qua việc tác động đến động lực tài chính của hoạt động sáng tạo. Xây dựng được một hệ thống điều kiện bảo hộ sáng chế hợp lý trong pháp luật quốc gia có thể coi là chìa khóa để khởi động quy trình sáng tạo và thông qua đó kích thích sự phát triển kinh tế. Việc nghiên cứu quy định của pháp luật liên quan đến điều kiện bảo hộ đối với sáng chế, đưa ra những thực trạng, giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật là điều cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài “Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế theo quy định của luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019) và một số kiến nghị” làm tiểu luận kết thúc học phần môn Luật sở hữu trí tuệ.
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ SÁNG CHẾ VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ
1.1. Khái quát chung về sáng chế
1.1.1. Khái niệm
Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề được xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên (khoản 12 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ. Giải pháp kỹ thuật được hiểu là cơ cấu, phương pháp hay chất mới hay sử dụng cơ cấu, phương pháp cũ theo chức năng mới. [6]
Sáng chế có thể được thể hiện dưới 5 dạng sau đây:
Một là, cơ cấu là tập hợp các chi tiết có chức năng giống nhau hoặc khác nhau,liên kết với nhau để thực hiện một chức năng nhất định,ví dụ: dụng cụ,máy móc,thiết bị,chi tiết máy,cụm chi tiết máy,các sản phẩm khác,v.v… [2]
Hai là, chất là tập hợp các phần tử có quan hệ tương hỗ với nhau, được đặc trưng bởi sự hiện diện, tỷ lệ và trạng thái của các phần tử tạo thành và có chức năng nhất định. Chất có thể là hợp chất hóa học, hỗn hợp chất, ví dụ: vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm. [2]
Ba là, phương pháp là quy trình thực hiện các công đoạn hoặc hàng loạt các công đoạn xảy ra cùng một lúc hoặc liên tiếp theo thời gian, trong điều kiện kỹ thuật xác định nhờ sử dụng phương tiện xác định, ví dụ: phương pháp hoặc quy trình sản xuất, xử lý, khai thác, đo đạc, thăm dò…
Bốn là, vật liệu sinh học là vật liệu có chứa các thông tin di truyền, có khả năng tự tái tạo hoặc được tái tạo trong hệ thống sinh học, ví dụ như tế bào, gen, cây chuyển gen. [2]
Năm là, sử dụng một cơ cấu (hoặc một chất, một phương pháp, một vật liệu sinh học) đã biết theo chức năng mới là sử dụng chúng với chức năng khác với chức năng đã biết, ví dụ như sử dụng phomat làm thuốc chữa bệnh đau răng. [2]
Như vậy, sáng chế được tồn tại chủ yếu thông qua hai dạng của giải pháp kĩ thuật là sản phẩm và quy trình, thông qua đó chúng đã tạo điều kiện cho xã hội loài người trải qua những bước phát triển tột bậc, ngày càng văn minh và hiện đại hơn.
1.1.2. Đặc điểm của sáng chế
Thuộc tính cơ bản của sáng chế là đặc tính kỹ thuật. Sáng chế có thể được thể hiện dưới dạng sản phẩm (vật thể, chất thể, vật liệu sinh học) hoặc quy trình hay phương pháp.
Thứ nhất, sản phẩm dưới dạng vật thể
Sản phẩm dưới dạng vật thể (dụng cụ, máy móc, thiết bị, linh kiện, mạch điện.) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về kết cấu, sản phẩm đó có chức năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định của con người. [1]
Thứ hai, sản phẩm dưới dạng chất thể
Sản phẩm dưới dạng chất thể (vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm…) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về sự hiện diện, tỉ lệ và trạng thái của các phần tử, có chức năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định của con người. [1]
Thứ ba, sản phẩm dưới dạng vật liệu sinh học
Sản phẩm dưới dạng vật liệu sinh học (gen, thực vật, động vật biến đổi gen.) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin về một sản phẩm chứa thông tin di truyền bị biến đổi dưới tác động của con người, có khả năng tự tái tạo. [1]
Thứ tư, quy trình hay phương pháp
Quy trình hay phương pháp (quy trình công nghệ; phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra, xử lý.) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định cách thức tiến hành một quá trình, một công việc cụ thể được đặc trưng bởi các dấu hiệu
(đặc điểm) về trình tự, điều kiện, thành phần tham gia, biện pháp, phương tiện thực hiện các thao tác nhằm đạt được một mục đích nhất định. [1].
1.2. Khái quát chung về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
1.2.1. Khái niệm điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế
Có thể hiểu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế đó là việc Nhà nước với công cụ là hệ pháp luật pháp sở hữu trí tuệ xác lập quyền cho các chủ thể (có thể là cá nhân, tổ chức) đối với sáng chế và bảo vệ quyền đỏ, chống lại bất kỳ sự xâm hại nào của chủ thể khác (có thể là cá nhân, tổ chức)…
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/dieu-kien-bao-ho-doi-voi-sang-che-theo-luat-so-huu-tri-tue/
