THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 22 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0015.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Hình sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI NÓI ĐẦU | 1 |
| PHẦN 1: TÓM TẮT VỤ ÁN | 2 |
| PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VỤ ÁN | 3 |
| I. XÁC ĐỊNH TỘI DANH | 3 |
| 1.1. Căn cứ pháp lý định tội danh | 3 |
| 1.2. Dấu hiệu pháp lý | 5 |
| II. ĐỊNH KHUNG HÌNH PHẠT | 6 |
| PHẦN 3: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI “LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN” | 8 |
| I. PHÂN TÍCH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM | 8 |
| 1.1. Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam | 8 |
| 1.2. Phân tích cấu thành tội phạm của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” | 9 |
| II. ĐÁNH GIÁ VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM | 12 |
| 2.1. Những điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản | 12 |
| 2.2. Những điểm hạn chế của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản | 14 |
| PHẦN 4: CÁC KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LUỢNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN | 16 |
| I. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỂ ĐỊNH TỘI DANH LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN | 16 |
| II. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỂ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN | 16 |
| KẾT LUẬN | 18 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 19 |
LỜI MỞ ĐẦU
Pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội. Trong đó, luật hình sự là một ngành luật đặc biệt của hệ thống pháp luật nước ta, nó xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm và quy định hình thức xử lý hình sự; cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự, cũng như hình phạt, biện pháp tư pháp và các chế định pháp lý hình sự khác…. Trong luật hình sự, bản chất của tội phạm được phản ánh qua bốn yếu tố cấu thành tội phạm, bốn yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và được xem là cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với người phạm tội. Theo khoa học luật hình sự Việt Nam, bất cứ hành vi phạm tội nào, dù ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng thì giữa những biểu hiện bên ngoài và những quan hệ tâm lý bên trong, đều là hoạt động của con người cụ thể, xâm hại hoặc nhằm xâm hại những quan hệ xã hội nhất định.
Trong thực tiễn do những lý do chủ quan, khách quan khác nhau mà xác định chính xác các dấu hiệu của tội phạm, các yếu tố cấu thành tội phạm chưa rõ ràng cụ thể, thiếu thống nhất dẫn đến tình trạng người tiến hành tố tụng hiểu sai, áp dụng sai trong định tội danh và quyết định hình phạt. Từ đó, làm cho hiệu quả, chất lượng giải quyết vụ án hình sự hạn chế, tình trạng xét xử oan, sai đối với người thực hiện hành vi hay bỏ lọt tội phạm vẫn tiếp diễn; nhiều vụ án hình sự không được giải quyết theo trình tự luật định, tình trạng tồn đọng án đang có dấu hiệu gia tăng, v.v… Thông qua mỗi vụ án, tình huống cụ thể chúng ta lại càng có cái nhìn rõ ràng hơn để phân tích, đánh giá; từ đó đưa ra những kiến nghị cụ thể và tội phạm đó trong Pháp luật Hình sự Việt Nam.
Do kiến thức lí luận và thực tế còn hạn chế nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
PHẦN 1: TÓM TẮT VỤ ÁN
– Bị cáo:
+ Nguyễn Văn M (sinh năm 1992), hộ khẩu thường trú: thành phố A; nghề nghiệp: không; tiền án: Không, tiền sự: Không.
+ Nguyễn Minh H (sinh năm 1995), hộ khẩu thường trú: thành phố A; nghề nghiệp: không; tiền án: Không, tiền sự: Không.
– Người bị hại: chị Hồ Minh T
– Nội dung vụ án:
Nguyễn Văn M (sinh năm 1992) và Nguyễn Minh H (1995) trú tại thành phố A đều không nghề nghiệp, ở nhà phụ cha mẹ bán hàng nước. Thấy kiếm tiền bằng cách bán hàng nước không nhanh giầu được nên hai anh em bàn nhau giả làm cảnh sát để đi trấn tiền của người đi đường vào ban đêm.
Tháng 5/2018, M đến chợ trời của tỉnh B mua được hai bộ quân phục cảnh sát và một còng số 8, bao súng da. H chuẩn bị một khẩu súng ngắn bằng nhựa và sơn lại biển số xe gắn máy thành biển số xanh.
Khoảng 23 giờ ngày 22/5/2018, sau khi mặc quân phục cảnh sát, M chở H đi xe gắn máy lượn quanh khu vực đường Lê Lợi, thành phố A thì phát hiện một người phụ nữ đi xe SH (sau được xác định là chị Hồ Minh T) có một chiếc túi treo trên gương xe, chúng liền áp sát chị T. M nói: “Chúng tôi là cảnh sát hình sự, yêu cầu chị cho xem giấy tờ”. Chị T luống cuống lục tìm giấy chứng minh thư nhân dân, H bảo: “Chị đưa túi đây tôi cầm cho mà tìm”.
Khi chị T vừa đưa túi thì M và H phóng xe vụt đi. Trong túi của chị T có một số giấy phép lái xe mang tên Hồ Minh T, 01 điện thoại di động trị giá 20 triệu đồng và 16 triệu đồng tiền mặt.
PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
I. XÁC ĐỊNH TỘI DANH
1.1. Căn cứ pháp lý định tội danh
Căn cứ vào tình huống đã cho, Nguyễn Văn M (sinh năm 1992) và Nguyễn Minh H (sinh năm 1995) là đồng phạm về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Khoản 1 – Điều 174 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015):
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi vi phạm của Nguyễn Văn M và Nguyễn Minh H phải đáp ứng các yêu tố : “dùng thủ đoạn gian dối” và “chiếm đoạt tài sản của người khác” (theo khoản 1 điều 174 – BLHS).
Ngoài ra, căn cứ vào Khoản 1, Điều 17 BLHS năm 2015:
Điều 17. Đồng phạm
1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
Ta nhận thấy Nguyễn Văn M và Nguyễn Minh H thỏa mãn các điều kiện mà khái niệm đã nêu: (1) Có hai người trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu TNHS; (2) Cùng thực hiện một tội phạm.
Hành vi của M và H đã có sự thống nhất, tiếp nhận ý chí và lý trí của nhau trước khi thực hiện tội phạm, M và H nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm, nhận thức được hậu quả xãy ra nhưng vẫn thực hiện và mong muốn (hoặc để mặc) hậu quả xảy ra. Thông qua việc chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội đã thể hiện rõ cả hai người đều có ý thức sẽ dùng thủ đoạn gian dối để nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị hại là chị T.
Để xác định hình thức đồng phạm, ta phải dựa vào các căn cứ, cụ thể:
– Dựa vào dấu hiệu khách quan của đồng phạm thì đây là đồng phạm phức tạp. Bởi vì, M và H đã có sự chuẩn bị kỹ cho hành vi phạm tội của mình, thể hiện thông qua việc chuẩn bị công cụ, phương tiện…phạm tội và trong quá trình thực hiện tội phạm thì mỗi người mỗi hành vi, cùng hỗ trợ cho nhau để thực hiện tội phạm.
– Dựa vào ý thức chủ quan của đồng phạm thì đây là đồng phạm có thông mưu trước. Bởi vì, M và H đã có sự thoả thuận, bàn bạc trước về tội phạm, thông qua sự chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội ta có thể nhận thấy các đối tượng này đã thể hiện có sự thống nhất về lý trí và ý chí để thực hiện tội phạm của mình.
– Dựa vào yếu tố khách quan và ý thức chủ quan của tội phạm thì đây là trường hợp phạm tội có tổ chức. Căn cứ vào Khoản 3 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015:
Điều 17. Đồng phạm
3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
…
Trong vụ án, cả M và H là “người thực hiện” thể hiện qua việc đều cùng trực tiếp thực hiện tội phạm: cùng giả làm công an và thực hiện hành vi gian dối để lừa chị T. Ngoài ra, để thực hiện tội phạm, các đối tượng đã có sự bàn bạc, thống nhất kế hoạch, phương án phạm tội, chuẩn bị rất kỹ về công cụ, phương tiện hỗ trợ để thực hiện hành vi phạm tội của mình.
Cụ thể hơn, 4 yếu tố cấu thành tội phạm sẽ được phân tích ở phần dấu hiệu pháp lý.
1.2. Dấu hiệu pháp lý
1.2.1. Khách thể của tội phạm
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm phạm quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản bao gồm: vật, tiền.
Ở tình tiết vụ án nói trên, Nguyễn Văn M và Nguyễn Minh H đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của chị Hồ Minh T hay chính là xâm phạm quyền sở hữu tài sản của chị T. Cụ thể đối tượng tác động – tài sản là một chiếc túi bên trong có một số giấy phép lái xe mang tên Hồ Minh T, 01 điện thoại di động trị giá 20 triệu đồng và 16 triệu đồng tiền mặt.
1.2.2. Mặt khách quan của tội phạm
– Về hành vi khách quan: Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Soi chiếu vào vụ việc trên, rõ ràng tình tiết được đưa ra về thủ đoạn gian dối của Nguyễn Văn M và Nguyễn Minh H.
Với Nguyễn Văn M đã có hành vi chuẩn bị phạm tội là: “mua hai bộ quân phục cảnh sát và một còng số 8, bao súng da”. Còn hành vi chuẩn bị phạm tội của Nguyễn Minh H là: “chuẩn bị một khẩu súng ngắn bằng nhựa và sơn lại biển số xe gắn máy thành biển số xanh.” Sau đó, cả M và H đã thực hiện hành vi gian dối của mình thông qua lời nói và hành động giả danh cảnh sát: “áp sát chị T. M nói: “Chúng tôi là cảnh sát hình sự, yêu cầu chị cho xem giấy tờ””. Điều này khiến chị Hồ Minh T không biết rằng mình đã bị lừa và cho rằng M và H thực sự là hai cảnh sát hình sự, từ đó tin tưởng đưa túi của mình M và H cầm hộ.
– Về mặt hậu quả: thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Khoản 1 của điều luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm. Hậu quả của vụ việc nói trên là M và H đã chiếm được tài sản của chị T và phóng xe vụt đi. Trong tài sản bị chiếm đoạt túi của chị T có một số giấy phép lái xe mang tên Hồ Minh T, 01 điện thoại di động trị giá 20 triệu đồng và 16 triệu đồng tiền mặt.
– Về mối quan hệ nhân quả: Hậu quả thiệt hại về tài sản phải được xuất phát từ hành vi lừa dối. Ở tình huống trên, hậu quả thiệt hại về tài sản của chị T là xuất phát từ hành vi lừa dối của M và H, làm cho chị T tin rằng những điều hai bị cáo lừa dối là sự thật
– Dấu hiệu khác: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên bị thiệt hại tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên. Theo tình tiết vụ án, giá trị tài sản mà chị T bị chiếm đoạt trong vụ việc là từ 2.000.000 đồng trở lên. Cụ thể trong túi có 01 điện thoại di động trị giá 20 triệu đồng và 16 triệu đồng tiền mặt được tính vào giá trị tài sản, hoàn toàn có thể cấu thành tội phảm của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (theo Khoản 1 Điều 174 – Bộ Luật Hình sự 2015).
1.2.3. Mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản. Xét lỗi của Nguyễn Văn M và Nguyễn Minh H, ta thấy M và H biết mình có hành vi lừa dối chị T và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để chiếm đoạt được tài sản do đó M và H có lỗi cố ý trực tiếp.
1.2.4. Chủ thể của tội phạm
Theo Điều 12 – Bộ Luật Hình sự 2015 quy định về “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự”, chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Nguyễn Văn M (1992) và Nguyễn Minh H (1995) sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản vì hai bị cáo hoàn toàn đủ 14 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
II. ĐỊNH KHUNG HÌNH PHẠT
Xét các bị cáo Nguyễn Văn M và Nguyễn Minh H có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, sẽ bị trừng trị, nhưng vì ý thức xem thường pháp luật, nên các bị cáo đã cố tình thực hiện. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Xét hành vi của các bị cáo M và H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo được xem xét cân nhắc khi quyết định hình phạt gồm: việc hai bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt (đóng giả làm cảnh sát hình sự) theo Điểm e Khoản 2 Điều 174.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm m Khoản 1 Điều 52 về “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự”; Điều 58 “Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm” Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), hai bị cáo Nguyễn Văn M và Nguyễn Minh H sẽ được định tội phạm nghiêm trọng (theo Khoản 1 Điều 9 Bộ Luật Hình sự 2015) và có thể bị xử phạt với khung hình phạt cao nhất là phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0015″]
