THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 41 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0117.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỘC QUYỀN HÀNH CHÍNH TRONG KINH DOANH | 2 |
| 1.1. Khái niệm về cạnh tranh | 2 |
| 1.2. Khái niệm về độc quyền | 3 |
| 1.3. Khái niệm về độc quyền hành chính trong kinh doanh | 5 |
| CHƯƠNG II: NỘI DUNG ĐỘC QUYỀN HÀNH CHÍNH TRONG KINH DOANH | 8 |
| 2.1. Nguyên nhân hình thành và tác động của độc quyền | 8 |
| a. Yếu tố đầu vào trong một lĩnh vực | 8 |
| b. Quy định, chính sách của Nhà nước | 8 |
| c. Luật bản quyền | 9 |
| d. Quy mô sản xuất | 10 |
| 2.2. Đặc điểm độc quyền hành chính trong kinh doanh | 11 |
| 2.2.1. Chủ thể của độc quyền hành chính | 11 |
| 2.2.2. Phương thức thể hiện của độc quyền hành chính | 14 |
| 2.2.3. Mục đích của độc quyền hành chính | 15 |
| 2.2.4. Độc quyền hành chính là một trong những nguyên nhân cho sự xuất hiện và tồn tại của tham nhũng | 15 |
| 2.3. Hậu quả của độc quyền tài chính trong kinh doanh | 17 |
| 2.4. Nhu cầu kiểm soát độc quyền hành chính trong kinh doanh | 18 |
| CHƯƠNG III: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC | 21 |
| 3.1. Cơ sở pháp lý xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của cơ quan quản lý nhà nước | 21 |
| 3.2. Về vấn đề bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của cơ quan nhà nước gây ra | 22 |
| 3.3. Về việc xác định thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra | 22 |
| 3.4. Về mức bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra | 23 |
| 3.5. Về thời hiệu và cách tính thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra | 23 |
| CHƯƠNG IV: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY | 25 |
| 4.1. Những vấn đề lý luận | 25 |
| 4.2. Thực tiễn ở Việt Nam hiện nay | 26 |
| CHƯƠNG V: GIẢI PHÁP, CÔNG CỤ NHẰM TIẾT CHẾ, LOẠI BỎ HIỆN TƯỢNG ĐỘC QUYỀN HÀNH CHÍNH TRONG KINH DOANH | 32 |
| 5.1. Củng cố cơ chế giám sát bằng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cạnh tranh và độc quyền hành chính. | 32 |
| 5.2. Tăng cường tính minh bạch và công khai trong hoạt động của nhà nước và các chủ thể kinh doanh. | 34 |
| 5.3. Tăng cường tính độc lập và địa vị của Ủy ban Cạnh tranh quốc gia | 34 |
| KẾT LUẬN | 36 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 37 |
LỜI MỞ ĐẦU
Sự cạnh tranh đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp. Sự cạnh tranh lành mạnh không chỉ giúp các chủ thể kinh doanh tối ưu hóa quá trình sản xuất và kinh doanh, mà còn thúc đẩy tiết kiệm chi phí và loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém không phù hợp với thị trường.
Tuy nhiên, khi kết hợp giữa cạnh tranh và chính sách của nhà nước, có thể tạo ra hiện tượng gọi là “Độc quyền hành chính” trong kinh doanh. Điều này đề cập đến việc một số doanh nghiệp hoặc tập đoàn trở nên quá mạnh mẽ, và sử dụng quyền lực này để hạn chế sự cạnh tranh và kiểm soát thị trường.
Trong bài viết dưới đây, chúng ta sẽ nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ pháp luật cạnh tranh và kiểm soát độc quyền. Chúng ta sẽ tìm hiểu về cơ chế mà các doanh nghiệp sử dụng để tạo ra độc quyền hành chính, và cách mà các cơ quan quản lý có thể can thiệp để đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong môi trường kinh doanh. Nhằm xem xét sâu hơn về tác động của Độc quyền hành chính đối với sự cạnh tranh và cơ hội kinh doanh của các chủ thể khác, chúng ta cũng sẽ xem xét các ví dụ thực tế và các trường hợp pháp lý liên quan. Qua đó, có thể rút ra những bài học quan trọng về cách duy trì môi trường kinh doanh cạnh tranh và công bằng, thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỘC QUYỀN HÀNH CHÍNH TRONG KINH DOANH
1.1. Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là một khái niệm rất phong phú và đa dạng. Trong mỗi lĩnh vực của đời sống xã hội, cạnh tranh có thể được định nghĩa theo các khía cạnh khác nhau. Trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là trong cơ chế kinh tế thị trường, khái niệm cạnh tranh trở nên quan trọng hơn khi nền kinh tế vận hành dựa trên quy luật cung – cầu, không phải là nền kinh tế tự cung tự cấp hoặc nền kinh tế bao cấp.
Theo Black’s Law Dictionary, cạnh tranh được định nghĩa là sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hoặc nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ một chủ thể thứ ba. Từ điển kinh doanh của Anh đưa ra định nghĩa khác, đó là sự ganh đua, cạnh tranh giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng.
Tuy luật cạnh tranh Việt Nam không đưa ra khái niệm cụ thể về cạnh tranh, nhưng luật này đề cập đến các khái niệm liên quan như hành vi hạn chế cạnh tranh và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Mục tiêu của luật là tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng, đảm bảo sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh diễn ra trong khuôn khổ được quy định bởi pháp luật.
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu cạnh tranh như sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng. Điều này đặt nền tảng cho tác giả phân tích Độc quyền hành chính trong kinh doanh, và cách mà cạnh tranh có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh. Nếu các chủ thể kinh doanh không có mục tiêu kiếm lời nhuận, thì không có cạnh tranh. Các chủ thể kinh doanh là các thành phần kinh tế với những hình thức sở hữu khác nhau, và cạnh tranh chỉ tồn tại khi có ít nhất hai chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Sự đa dạng của thành phần kinh tế tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh một cách tốt hơn.
Thứ hai, cạnh tranh chỉ tồn tại trong cơ chế kinh tế thị trường. Nền kinh tế bao cấp, tự cung tự cấp không tồn tại cạnh tranh. Trong mô hình kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để tăng thị phần và lợi nhuận. Tuy nhiên, trong mô hình kinh tế bao cấp, doanh nghiệp thực hiện kế hoạch và không có sự cạnh tranh.
Thứ ba, mục tiêu của cạnh tranh là cùng tranh giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm. Doanh nghiệp cạnh tranh để đạt được lợi nhuận bằng cách cạnh tranh trong việc thu hút khách hàng, cung cấp sản phẩm phù hợp với thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng, giảm chi phí đầu vào và giá bán sản phẩm phù hợp.
Cạnh tranh có thể được phân loại theo các tiêu chí khác nhau như tính chất và mức độ can thiệp của nhà nước vào đời sống kinh tế, tính chất của các phương thức cạnh tranh và cấu trúc của thị trường. Sự hiểu rõ về cạnh tranh và độc quyền hành chính trong kinh doanh là vô cùng quan trọng để phát triển một nền kinh tế thị trường cạnh tranh và công bằng.
1.2. Khái niệm về độc quyền
Độc quyền và cạnh tranh có mối liên hệ mật thiết với nhau. Thuật ngữ “độc quyền” (monopoly) xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại, trong đó “Monos” có nghĩa là “duy nhất” và “Polein” có nghĩa là “bán”. Đơn giản mà nói, Độc quyền hành chính trong kinh doanh đề cập đến tình trạng một cá nhân hoặc doanh nghiệp là người bán duy nhất trên thị trường. Mở rộng khái niệm, độc quyền là hiện tượng một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp cấu kết chiếm vị trí độc tôn trong việc cung cấp sản phẩm nhất định nào đó, cho phép họ kiểm soát hoàn toàn giá cả sản phẩm để thu lợi nhuận tối đa và ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh khác thâm nhập thị trường.
Luật cạnh tranh 2018 không đề cập trực tiếp đến khái niệm độc quyền, nhưng nó quy định về doanh nghiệp có vị trí độc quyền. Theo Điều 25 của Luật này, Doanh nghiệp được xem là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan. Từ đó, ta có thể hiểu Độc quyền hành chính trong kinh doanh, theo quy định của luật cạnh tranh, là sự độc quyền bán, trong đó không tồn tại đối thủ cạnh tranh cùng kinh doanh trên thị trường.
Qua đó, độc quyền tồn tại trên thị trường có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, chỉ có một chủ thể cung cấp hoặc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường mà không có sản phẩm thay thế hoặc tương đương. Trên thị trường độc quyền, không có đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp độc quyền có thể độc quyền nguồn cung (độc quyền bán) hoặc độc quyền cầu (độc quyền mua). Khi độc quyền, doanh nghiệp nắm giữ thị trường và có khả năng tước bỏ quyền lựa chọn của khách hàng.
Thứ hai, doanh nghiệp độc quyền là người quyết định giá bán hoặc giá mua. Họ có thể nâng giá hoặc giảm giá sản phẩm để thu được lợi nhuận độc quyền lớn nhất. Ví dụ, trong ngành sản xuất điện, doanh nghiệp đầu tư dự án điện gió có thể đứng trong thế độc quyền trong việc quyết định giá bán điện cho EVN và giá bán điện cho người tiêu dùng.
Thứ ba, rào cản gia nhập thị trường rất lớn làm cho các doanh nghiệp khác gặp khó khăn hoặc không thể tham gia thị trường được. Điều này tạo ra sự bất công và hạn chế cạnh tranh trong ngành.
Độc quyền hành chính trong kinh doanh có thể có nguồn gốc từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Dựa vào nguyên nhân, độc quyền có thể chia thành các loại sau:
Thứ nhất, độc quyền hành chính trong kinh doanh do quá trình cạnh tranh. Sau quá trình cạnh tranh, lợi nhuận và các nguồn lực tích tụ vào doanh nghiệp chiến thắng, đồng thời các doanh nghiệp khác dần biến mất, tạo nên thế độc quyền.
Thứ hai, độc quyền hành chính trong kinh doanh do nắm giữ ưu thế về công nghệ, yêu cầu của ngành. Đối với một số ngành, rào cản tham gia thị trường đến từ yêu cầu về khoa học công nghệ, làm cho rất ít doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc quy mô đầu tư, do đó, loại bỏ dần những đối thủ không đáp ứng được yêu cầu của ngành.
Thứ ba, độc quyền hành chính trong kinh doanh do bảo hộ của nhà nước bao gồm bảo hộ bằng các quyết định hành chính cho các doanh nghiệp của nhà nước và bảo hộ các đối tượng thuộc sở hữu công nghiệp.
Tóm lại, độc quyền hành chính trong kinh doanh xuất hiện khi có một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp chiếm vị trí độc tôn trên thị trường, không tồn tại đối thủ cạnh tranh và có khả năng kiểm soát giá cả sản phẩm. Điều này tạo ra những rủi ro liên quan đến công bằng cạnh tranh và tạo nên sự hạn chế cho sự phát triển của nền kinh tế.
1.3. Khái niệm về độc quyền hành chính trong kinh doanh
Độc quyền hành chính trong kinh doanh là một trong những loại độc quyền, nằm trong trường hợp độc quyền do bảo hộ của nhà nước. Được Nhà nước trao quyền, cơ quan nhà nước và các cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước tác động vào nền kinh tế bằng những văn bản pháp quy, các quyết định hành chính và hành vi hành chính. Hành vi này làm thay đổi quá trình và kết quả của cạnh tranh tự nhiên. Lợi thế được tạo ra do độc quyền hành chính tạo ra là những lợi thế về thị trường, nguồn cung đầu vào, và nguồn khách hàng.
Có thể thấy đặc trưng của độc quyền hành chính bao gồm:
Thứ nhất, phương thức thể hiện của độc quyền hành chính là dựa vào quyền lực hành chính. Các cơ quan nhà nước sử dụng quyền lực của mình thông qua văn bản pháp quy, quyết định hành chính và hành vi hành chính để tạo lập độc quyền hành chính.
Thứ hai, độc quyền hành chính tạo ra hệ quả không chỉ đối với đối tượng tác động mà còn ảnh hưởng đến cả khu vực hành chính. Bất kỳ sự độc quyền của chủ thể kinh doanh nào cũng đem lại hiệu quả kinh tế to lớn đối với chủ thể đó. Khi có độc quyền, chủ thể nắm giữ sự độc quyền có thể tự ý quyết định giá mua hoặc giá bán hoặc cả giá mua và giá bán, từ đó hưởng lợi từ chênh lệch giá, chiếm lĩnh thị trường và đưa ra những điều kiện trong giao kết hợp đồng; tạo ra rào cản trong gia nhập thị trường. Đồng thời, việc can thiệp của cơ quan nhà nước cũng có mục đích hướng đến không chỉ tạo lợi ích cho chủ thể kinh doanh mà còn tạo ra lợi ích riêng cho vùng miền, khu vực hành chính. Nhờ độc quyền hành chính, khu vực hành chính đó có lợi thế hơn so với khu vực hành chính khác.
Thứ ba, độc quyền hành chính trong kinh doanh tồn tại do sự can thiệp của cơ quan nhà nước vào nền kinh tế. Thừa nhận rằng, nhà nước có vai trò quan trọng trong quá trình điều tiết nền kinh tế, tuy nhiên, việc can thiệp quá mức có thể tạo ra những hệ lụy không tốt và cơ hội lợi dụng chính sách của nhà nước cho những chủ thể kinh doanh liên quan đến hàng hóa, dịch vụ được hưởng độc quyền hành chính. Để phòng ngừa hiện tượng này, pháp luật cạnh tranh Việt Nam đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến cạnh tranh tại Điều 8 Luật cạnh tranh 2018, và đó cũng là 4 loại độc quyền hình chính, cụ thể là:
– Ép buộc, yêu cầu, khuyến nghị doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện hoặc không thực hiện việc sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng, sử dụng dịch vụ cụ thể hoặc mua, bán hàng hóa, cung ứng, sử dụng dịch vụ với doanh nghiệp cụ thể, trừ hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước hoặc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật.
– Phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp.
– Ép buộc, yêu cầu, khuyến nghị các hiệp hội ngành, nghề, tổ chức xã hội – nghề nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp liên kết với nhau nhằm hạn chế cạnh tranh trên thị trường.
– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để can thiệp trái pháp luật vào hoạt động cạnh tranh.
Bên cạnh đó, luật cũng quy định các biện pháp kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước như quyết định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước; quyết định số lượng, khối lượng, phạm vi thị trường của hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước; và định hướng, tổ chức các thị trường liên quan đến hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Ví dụ, Chính phủ đặt ra quy định giá mua điện đối với các dự án điện, giúp điều tiết thị trường điện và đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/nhung-giai-phap-cong-cu-nham-tiet-che-loai-bo-hien-tuong-doc-quyen-hanh-chinh-trong-kinh-doanh/
