THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 26 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0010.
- Pháp luật áp dụng: Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN | 2 |
| 1.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án | 2 |
| 1.2. Đặc điểm của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án | 2 |
| 1.3. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án | 3 |
| 1.4. Ưu điểm và nhược điểm của giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án | 6 |
| 1.5. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của Tòa án | 7 |
| 1.6. Thời hạn khởi kiện giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án | 8 |
| 1.7. Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng Toà án | 9 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN | 12 |
| 2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại | 12 |
| 2.2. Tình huống áp dụng thực tế (Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ tiếp thị và phân phối độc quyền) | 13 |
| 2.2.1. Nội dung vụ án | 13 |
| 2.2.2. Quá trình giải quyết vụ án | 14 |
| 2.2.3. Bình luận liên quan và một số vấn đề cần xem xét, rút kinh nghiệm | 16 |
| 2.3. Những hạn chế, vướng mắc | 17 |
| CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN | 19 |
| 3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án trong thời gian tới | 19 |
| 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án | 19 |
| KẾT LUẬN | 22 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 23 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong kinh doanh thương mại, giữa các chủ thể kinh doanh luôn phải có sự liên kết với nhau để cùng nhau mang lại lợi nhuận, ý chí của các bên được thể hiện thông qua hợp đồng, nhằm xác định quyền và nghĩa vụ các bên trong kinh doanh thương mại. Theo quy định của pháp luật, thì các bên phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ như đã cam kết, tuy nhiên trên thực tế không phải lúc nào các chủ thể cũng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình cho nên phát sinh tranh chấp là không thể tránh khỏi.
Về nguyên tắc khi phát sinh tranh chấp trong kinh doanh thương mại, để đảm bảo nguyên tắc tự thỏa thuận, pháp luật cho phép các bên gặp nhau để thương lượng, bàn bạc tìm cách giải quyết và không phải lúc nào thương lượng, hòa giải cũng luôn đi tới đích đến, trong trường hợp các bên không thể thỏa thuận được thì tranh chấp thương mại được giải quyết bằng Trọng tài hoặc Tòa án nhân dân giải quyết theo thủ tục tố tụng quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Qua thực tiễn thi hành, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì việc các quy định pháp luật còn có sự chồng chéo, thiếu rõ ràng, chặt chẽ vô hình chung gây khó khăn cho cán bộ làm công tác tố tụng.
Xuất phát từ vấn đề trên, em xin chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo quy định của pháp luật Việt Nam, lý luận và thực tiễn” để hoàn thành bài tiểu luận của mình.
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN
1.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án
Giải quyết tranh chấp bằng tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo thủ tục, trình tự chặt chẽ nghiêm ngặt để đưa ra bản án hay quyết định buộc các bên có nghĩa vụ thi hành.
Giải quyết tranh chấp bằng tòa án là một phương thức mang ý chí quyền lực nhà nước. Qua đó, tòa án sẽ nhân danh quyền lực nhà nước để giải quyết tranh chấp trên cơ sở là những quy định của pháp luật. Bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực bắt buộc các bên tranh chấp phải thực thi và có thể kèm theo các biện pháp cưỡng chế thi hành.
1.2. Đặc điểm của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án
Thứ nhất, Tòa án đại diện cho nhà nước, thực thi và áp dụng pháp luật để xử lý mọi trường hợp vi phạm pháp luật.
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp phải tuân thủ các quy định về hình thức, thẩm quyền, thủ tục, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp của pháp luật tố tụng, nhất là các quy định tại Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Thứ ba, Tòa án không giải quyết tranh chấp theo các hình thức xử kín như hòa giải, trọng tài mà áp dụng nguyên tắc xét xử công khai.
Thứ tư, giải quyết tranh chấp tại tòa án có thể bao gồm hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm. Với bản án có hiệu lực còn có thể xét lại theo thủ tục tái thẩm hoặc giám đốc thẩm.
Thứ năm, Tòa án giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
1.3. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án
Thứ nhất, quyền quyết định và định đoạt của đương sự
Tôn trọng quyền tự do định đoạt của các đương sự bắt nguồn từ nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh. Nguyên tắc này được ghi nhận tại điều 5 Bộ luật Tố tụng Dân sự: “1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. 2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”.
Quyền tự định đoạt trong quy định trong TTDS là “sự phản ánh của quyền tự định đoạt của các chủ thể trong mối quan hệ dân sự”. Quyền tự định đoạt của đương sự trong dân sự bao gồm các nguyên tắc: Nguyên tắc tự do, tự cam kết, thỏa thuận (Điều 4 Bộ luật Dân sự) Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền dân sự (Điều 9 Bộ luật Dân sự) Nguyên tắc hòa giải (Điều 12 Bộ luật Dân sự). Trong tố tụng dân sự nguyên tắc quyền tự định đoạt thể hiện ở khả năng tham gia tố tụng, tự do định đoạt quyền dân sự của mình và các quyền về phương tiện tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại.
Thứ hai, bình đẳng giữa các bên đương sự
Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến Pháp. Quyền này đã được cụ thể hoá trong nhiều văn bản pháp luật, trong đó có BLTTDS: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Toà án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp. Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác. Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”.[1]
Việc cụ thể hoá quyền bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó còn thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Thứ ba, xét xử độc lập và tuân thủ theo pháp luật
Khi xét xử các vụ án tranh chấp, tòa án sẽ hoàn toàn độc lập trong xét xử và không phụ thuộc vào các cơ quan khác. Toàn bộ quá trình tố tụng của tòa án chỉ tuân theo những quy định của pháp luật, không bị chi phối bởi các quan điểm chính trị. Pháp luật của các nước trên thế giới cũng nghiêm cấm mọi hành vi cản trở thẩm phán, hội thẩm thực hiện nhiệm vụ trong các phiên xét xử.
Thứ tư, nguyên tắc hòa giải
Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng kinh tế được quy định tại Điều 10 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015, theo nguyên tắc này: “Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”.
Bản chất của quan hệ kinh tế được thiết lập trên cơ sở tự nguyện và quyền tự định đoạt của đương sự, do đó việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ này được thực hiện theo những biện pháp nhất định, trong đó hòa giải là một biện pháp quan trọng và là nguyên tắc bắt buộc trong tố tụng dân sự. Hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng, được thực hiện nhằm mục đích phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ giữa các bên tham gia quan hệ kinh tế, nâng cao kết quả giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại. Đồng thời làm tốt hòa giải sẽ hạn chế những tốn kém về tiền bạc, thời gian của Nhà nước, công sức của cán bộ Nhà nước cũng như của công dân, hạn chế những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp. Bộ Luật Tố tụng dân sự cũng quy định cụ thể việc hòa giải được thực hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét xử tại phiên tòa, trừ những vụ án không được hòa giải như yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, hoặc những vụ án kinh tế phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội.
Thứ năm, cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng
Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại. Khác với giải quyết các vụ án hình sự, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại thì Tòa án không tiến hành điều tra mà đương sự phải cung cấp chứng cứ, Tòa án chỉ xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp nhất định.
Việc quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán mới tự mình thu thập chứng cứ hoặc trong các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.
Viện kiểm sát là cơ quan tham gia nguồn tài liệu, chứng cứ được cung cấp để tăng tính khách quan của vụ việc: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ”.
Thứ sáu, giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời
Xuất phát từ nhu cầu kinh doanh, việc giải quyết tranh chấp không những bảo đảm đúng pháp luật mà còn phải nhanh chóng, kịp thời, dứt điểm, tránh dây dưa, kéo dài, đảm bảo khắc phục kịp thời cho bên bị vi phạm. Trong Bộ Luật Tố tụng dân sự quy định cụ thể thời hạn ở các giai đoạn tố tụng, như thời hạn thụ lý, thời hạn thu thập chứng cứ và đưa vụ việc ra xét xử, thời hạn phát hành quyết định, bản án, thời hạn kháng cáo, khiếu nại và giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm… Phần lớn Toà án các cấp đều giải quyết vụ việc trong thời hạn luật định.
1.4. Ưu điểm và nhược điểm của giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án
* Ưu điểm:
Thứ nhất, vì là cơ quan xét xử của nhà nước nên các phán quyết của tòa án sẽ có tính cưỡng chế cao với thủ tục, trình tự tố tụng chặt chẽ và đảm bảo hiệu lực thi hành của các quyết định, phán quyết tại tòa. Đồng thời sẽ tiến hành cưỡng chế nếu các bên không chấp hành theo bản án.
Thứ hai, Tòa án áp dụng nguyên tắc xét xử công khai nên có tác dụng răn đe, trấn áp đối với những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật. Ngoài ra, người dân theo dõi vụ xét xử công khai cũng nhận diện được những đối tượng này để tránh những trường hợp khác xảy ra.
Thứ ba, là đại diện cho chủ quyền quốc gia, Tòa án có điều kiện tốt hơn trong việc tiến hành điều tra so với các trọng tài viên, Tòa án còn có quyền cưỡng chế, triệu tập bên thứ ba đến tòa để giải quyết vụ án tranh chấp.
Thứ tư, chi phí hành chính khi giải quyết tranh chấp bằng tòa án rất hợp lý.
Mặt khác, các bên cũng không phải trả thêm thù lao cho Thẩm phán.
* Nhược điểm:
Thứ nhất, thủ tục tố tụng tài tòa án đã được pháp luật quy định cụ thể nên có thể thiếu linh hoạt trong một số trường hợp.
Thứ hai, khi phán quyết của Tòa bị kháng cáo, quá trình tố tụng có thể bị trì hoãn và kéo dài thời gian hơn, phải trải qua nhiều cấp xét xử và ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các bên tranh chấp.
Thứ ba, nguyên tắc xét xử công khai được xem là nguyên tắc tiến bộ mang tính răn đe nhưng đôi khi lại gây cả trở với các bên tranh chấp vì làm lộ bí mật cá nhân, doanh nghiệp, giảm uy tín,…
Thứ tư, đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì phán quyết của tòa án thường khó được sự công nhận quốc tế vì ở mỗi quốc gia sẽ có những quy tắc tố tụng khác nhau
[1] Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
