THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 22 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0045.
- Pháp luật áp dụng: Công ước về Luật biển năm 1982
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN BIỂN BẰNG TOÀ ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN | 2 |
| 1.1. Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển | 2 |
| 1.1.1. Giải quyết tranh chấp trên biển | 2 |
| 1.1.2. Toà án quốc tế về Luật biển | 5 |
| 1.2. Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển | 6 |
| 1.2.1. Phương thức xác lập thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển | 6 |
| 1.2.2. Quyền tài phán đối với giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển | 8 |
| 1.2.3. Thủ tục tố tụng đối với giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển | 9 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN BIỂN BẰNG TOÀ ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP | 12 |
| 2.1. Thực trạng về vấn đề giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển | 12 |
| 2.1.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển | 12 |
| 2.1.2. Việt Nam giải quyết tranh chấp trên biển tại Toà án Quốc tế về Luật biển | 13 |
| 2.1.3. Những bất cập, hạn chế của việc giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển của Việt Nam | 14 |
| 2.2. Một số kiến nghị, giải pháp về việc giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển | 15 |
| KẾT LUẬN | 18 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 19 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trên bề mặt Trái Đất chúng ta thì nước chiếm đến 70% diện tích, trong đó biển và đại dương chiếm chủ yếu. Vì vậy, biển và đại dương đóng vai trò đặc biệt và cực kỳ quan trọng đối với mỗi quốc gia trên thế giới, là điều kiện rất thuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa các quốc gia. Không ai có thể phủ nhận rằng tất cả các quốc gia, dù khác nhau về nền kinh tế chính trị, xã hội, không kể lớn hay nhỏ, quốc gia đó có biển hay không có biển thì đều có những lợi ích gắn liền với biển và đại dương. Những lợi ích mà đại dương đem lại là vô cùng to lớn.
Vì vậy, trong những năm vừa qua, thường xuyên xảy ra các cuộc tranh chấp giữa các quốc gia trên biển. Tranh chấp quốc tế là một vấn đề thời sự khá nóng bỏng hiện nay. Việc thiết lập và duy trì hệ thống các cơ quan tài phán quốc tế để giải quyết tranh chấp là một nhu cầu bức thiết được đặt ra trong đời sống quốc tế. Mọi tranh chấp quốc tế có thể được giải quyết thông qua những cách thức, biện pháp khác nhau và đạt được những thành tựu to lớn. Các bên có thể tự do lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng bất cứ phương pháp hoà bình nào do các bên lựa chọn. Trong đó, không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của Toà án Luật biển quốc tế. Bằng những hành động thực tế của mình, Toà án Luật biển quốc tế đã có những đóng góp quan trọng trong việc củng cố, duy trì luật pháp quốc tế, tạo nên một môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng cho các quốc gia.
Với tình hình biển Đông ngày càng xảy ra phức tạp, nhân dân Việt Nam thì chủ quyền thiêng liêng của đất nước là bất khả xâm phạm, vậy nên con người Việt Nam đang chung tay bảo vệ phần lãnh thổ thiieng liêng của Tổ quốc, đặc biệt là hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Vì thế nên việc nghiên cứu giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển mang tính cấp thiết đối với các quốc gia ven biển nói chung và Việt Nam nói riêng
Từ những lí do nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc về Luật Biển”.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN BIỂN BẰNG TOÀ ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN
1.1. Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển
1.1.1. Giải quyết tranh chấp trên biển
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp trên biển
Tranh chấp là một hiện tượng phổ biến và không thể tránh khỏi trong bất cứ một xã hội nào, nó diễn ra mọi lúc, mọi nơi và trên mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống. Bên cạnh những tranh chấp phổ biển như kinh tế, thương mại… thì tranh chấp trên biển đã, đang và sẽ là vấn đề phức tạp mà các chủ thể của Luật quốc tế phải đối diện giải quyết nhằm duy trì trật tự, ổn định và hòa bình trong đời sống quốc tế.
Theo từ điển Black’s Law, tranh chấp dưới góc độ pháp lý là “sự tranh cãi, xung đột, bất đồng liên quan đến quyền và nghĩa vụ; một bên viện dẫn quyền hay yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ, và bên liên quan đưa ra lập luận phản bác yêu cầu trên”. Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (1992) đưa ra định nghĩa tranh chấp là: “Sự đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên”.
Từ những khái niệm nêu trên, có thể xác định tranh chấp quốc tế trên biển là những hoàn cảnh thực tế, tại đó các chủ thể Luật quốc tế có sự mâu thuẫn, xung đột về lợi ích hay có quan điểm trái ngược nhau về một vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động trên biển, như xác định vùng biển, phân định biển, thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển và các hoạt động khai thác, sử dụng biển khác.
Thực tiễn cho thấy, những tranh chấp quốc tế trên biển diễn ra chủ yếu giữa các quốc gia, bởi chỉ quốc gia trên cơ sở chủ quyền mới có thể đưa ra các tuyên bố liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển và thực hiện các quyền, nghĩa vụ liên quan tại các vùng biển đó. Các chủ thể khác (như dân tộc đang đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết…) tham gia rất hạn chế vào quan hệ pháp luật là đối tượng điều chỉnh của luật biển. Cá nhân và pháp nhân tham gia trực tiếp vào hoạt động khai thác và sử dụng biển nhung không có thẩm quyền đương nhiên trong việc thực hiện những quyền đó và không trở thành chủ thể tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật biển quốc tế. Điều 87 khoản 1 Công ước luật biển năm 1982 quy định: “Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển”. Như vậy, các cá nhân và pháp nhân, khi tiến hành các hoạt động trên biển, được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ, tôn trọng những quy tắc của trật tự pháp lý quốc tế trên cơ sở quyền và nghĩa vụ pháp lý mà các quốc gia thỏa thuận dành cho nhau. Trong một số trường hợp đặc biệt, Công ước Luật biển năm 1982 cho phép các cá nhân, pháp nhân, có tranh chấp trong quá trình khai thác Vùng – di sản chung của nhân loại, được giải quyết tranh chấp tại Tòa trọng tài thương mại hoặc Viện giải quyết tranh chấp đáy biển thành lập theo quy định của Công ước luật biển năm 1982[1].
1.1.1.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp
Quy định cơ chế giải quyết các tranh chấp về biển là một nội dung quan trọng trong hệ thống luật pháp quốc tế, từ Hiến chương Liên Hợp quốc và cụ thể hoá là Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982). Công ước Luật biển 1982 vừa là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng hỗ trợ các quốc gia trong việc quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở biển, vừa là công cụ hữu hiệu để các quốc gia giải quyết các tranh chấp phát sinh từ biển.
Công ước Luật biển 1982 nhấn mạnh lấy Hiến chương Liên Hợp quốc làm căn cứ, áp dụng phương thức hoà bình để giải quyết tranh chấp. Điều 279 của Công ước quy định: “Các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp xảy ra giữa họ về việc giải thích hay áp dụng Công ước bằng các phương pháp hòa bình theo đúng Điều 2 khoản 3 của Hiến chương Liên Hợp quốc và, vì mục đích hòa bình này, cần phải tìm ra giải pháp bằng các phương pháp đã được nêu ở khoản 1 Điều 33 của Hiến chương”. Như vậy rất rõ ràng, tôn chỉ lập pháp của Công ước Luật biển 1982 là giải quyết hoà bình những tranh chấp lợi ích biển giữa các nước, các khu vực, bảo vệ hoà bình và ổn định của khu vực.
Công ước nhấn mạnh tính tự chủ của các bên trong giải quyết tranh chấp, “các quốc gia thành viên đi đến thỏa thuận giải quyết vào bất cứ lúc nào, bằng bất kỳ phương pháp hòa bình nào theo sự lựa chọn của mình một vụ tranh chấp xảy ra giữa họ về vấn đề giải thích hay áp dụng Công ước”[2]. Theo cách giải thích thì thoả thuận giữa các bên liên quan có tính quyền uy cao hơn quy định của Công ước, đây chính là không gian rộng mở mà Công ước dành cho các nước để thỏa thuận hữu nghị và có cách giải quyết sáng tạo hợp lý với nhau.
Các bên tranh chấp có thể thoả thuận tự giải quyết các tranh chấp giữa họ về vấn đề giải thích hay áp dụng Công ước thông qua đàm phán, trao đổi quan điểm hoặc hòa giải. Trong trường hợp khi tranh chấp không thể giải quyết được bằng thủ tục hòa giải thì theo yêu cầu của một bên tranh chấp, họ phải buộc lựa chọn một trong bốn khả năng của thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định bắt buộc. Các quốc gia có thể chọn một hoặc nhiều biện pháp về thủ tục giải quyết bắt buộc như: Toà án quốc tế về luật biển, Tòa án Công lý quốc tế, Tòa trọng tài, Toà trọng tài đặc biệt dành cho các tranh chấp về lĩnh vực nghề cá, bảo vệ và bảo tồn môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển hoặc về hàng hải …
Đối với việc giải quyết tranh chấp bằng theo thủ tục bắt buộc, các quốc gia thành viên Công ước Luật biển 1982 có hai hình thức Toà án và hai hình thức Toà trọng tài để lựa chọn. Nếu trong trường hợp có sự lựa chọn khác nhau hoặc không lựa chọn thì hình thức Toà Trọng tài sẽ được sử dụng. Việc Công ước Luật biển 1982 thông qua cơ chế giải quyết các tranh chấp về biển giữa các quốc gia là một bước tiến quan trọng trong hệ thống luật pháp quốc tế về biển và là thắng lợi của cuộc đấu tranh vì sự công bằng về quyền và lợi ích trên biển giữa các quốc gia. Để cơ chế giải quyết tranh chấp về biển có hiệu lực, vấn đề quan trọng cốt lõi là các nước liên quan cần có thiện chí và giải quyết các tranh chấp thông qua thương lượng, trên tinh thần tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, tôn trọng và tuân thủ các quy tắc, quy định đã được Công ước Luật biển 1982 nêu ra.
1.1.2. Toà án quốc tế về Luật biển
Trong Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật biển đã xuất hiện ý tưởng về việc thiết lập một cơ quan xét xử mới, chuyên giải quyết các tranh chấp liên qian đến biển và đại dương hình thành ngay từ đầu của quá trình đàm phán xây dựng Công ước Luật biển 1982. Nhiều nước tham gia Hội nghị Luật biển lần thứ III cho rằng cần phải thành lập một Toà án mới với các Thẩm phán là những người am hiểu thực sự về phát triển của các nguyên tắc, quy định mới được ghi nhận trong Công ước Luật biển 1982. Và Hội nghị đã ra quyết định thành lập Toà án Luật biển. Quy chế của Toà án là Phụ lục Công ước Luật biển 1982 nhưng Toà án là một thiết chế độc lập với các cơ quan khác do Công ước lập ra như Cơ quan quyền lực đáy đại dương và Uỷ ban ranh giới thềm lục địa. Toà án có ngân sách và thư ký riêng. Toà án được hưởng các quyền ưu đãi miễn trừ cần thiết cho việc thực hiện các chức năng của mình
Toà án Luật biển là thiết chế tài phán quốc tế, một cơ quan tư pháp độc lập, được thành lập để thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực Luật biển bằng trình tự, thủ tục tư pháp, phù hợp với quy định của Công ước Luật biển 1982 và Quy chế Toà án. Toà án Luật biển là một rong số cơ quan tài phán có chức năng giải quyết những loại tranh chấp nhất định thuộc lĩnh vực Luật biển.
Cũng như các Toà án khác trong hệ thống pháp luật quốc tế, thông qua các hoạt động chức năng của Toà án Luật biển là một trong những cơ quan giải quyết tranh chấp liên quan đến biển có vai trò quan trọng trong lĩnh vực xây dựng và thực thi Luật biển quốc tế nói riêng và luật quốc tế nói chung.
1.2. Quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển
1.2.1. Phương thức xác lập thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển
Các bên được quyền đưa tranh chấp ra trước Toà án bao gồm: Các quốc gia thành viên, các quốc gia không thành viên, các thể nhân, pháp nhân, tổ chức quốc tế.[3]
Tại Điều 21 Quy chế của Toà án Luật biển quy định: “Toà án có thẩm quyền đối với tất cả các vụ tranh chấp và tất cả các yêu cầu được đưa ra Toà theo đúng Công ước, và đối với tất cả các trường hợp được trù định rõ trong mọi thoả thuận khác, giao thẩm quyền cho Toà án”. Có thể thấy, các phương thức xác lập thẩm quyền của Toà án Luật biển như sau:
Thứ nhất, thầm quyền của Toà án Luật biển trong các tuyên bố đơn phương
Điều 287 Công ước Luật biển 1982 quy định, khi ký hay phê chuẩn Công ước hoặc tham gia Công ước ở bất kỳ thời điểm nào sau đó, để giải quyết các tranh chấp có liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước, quốc gia được quyền tự do lựa chọn – dưới hình thức tuyên bố bằng văn bản – một hay nhiều biện pháp sau:
a) Đưa ra Toà án Quốc tế về Luật biển
b) Đưa ra Toà án công lý quốc tế
c) Đưa ra một Toà Trọng tài được thành lập theo đúng Phụ lục VII của Công ước
d) Đưa ra một Toà Trọng tài đặc biệt để giải quyết các tranh chấp trong từng lĩnh vực riêng biệt như nghiên cứu khoa học biển, nghề cá, giao thông biển… được thành lập theo đúng Phụ lục VII của Công ước.
Quyền tự do lựa chọn cũng có thể hàm ý tồn tại tình huống không lựa chọn một biện pháp nào. Khi đó, theo khoản 3 Điều 287 của Công ước Luật biển 1982, một quốc gia thành viên tham gia vào một vụ tranh chấp mà không được một tuyên bố còn hiệu lực bảo vệ thì được xem là đã chấp nhận thủ tục trọng tài trù định ở Phụ lục VII. Ngược lại, quyền tự do lựa chọn cũng dẫn tới tình huống một quốc gia có thể tuyên bố chấp nhận một thủ tục duy nhất, hoặc hai hay nhiều thủ tục cùng lúc.
Thứ hai, thẩm quyền của Toà án Luật biển trong các Điều ước quốc tế
Một Toà án nói ở Điều 287 cũng có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng một Điều ước quốc tế có liên quan đến các mục đích của Công ước và đã được đưa ra cho Toà án theo đúng quy định của Điều ước này.[4]
Nếu được sự thoả thuận của tất cả các bên trong một hiệp ước hay công ước đã có hiệu lực liên quan đến một vấn đề do Công ước đề cập, thì bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích, áp dụng hiệp ước hoặc công ước đó có thể đưa ra Toà án theo đúng như điều đã thoả thuận[5]
Toà án Quốc tế về luật biển có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển:
Một là, giữa các quốc gia tuyên bố bằng văn bản lựa chọn Tòa. Đây là thẩm quyền được xác định trước khi xảy ra tranh chấp. Khi tranh chấp xảy ra, một bên liên quan và đã có tuyên bố bằng văn bản lựa chọn Tòa có quyền đơn phương kiện bên tranh chấp với mình ra Tòa với điều kiện bên tranh chấp này cũng đã có tuyên bố bằng văn bản chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa;
Hai là, giữa các quốc gia tranh chấp có cùng thỏa thuận lựa chọn Toà án Quốc tế về Luật biển bằng một thỏa thuận song phương hoặc đa phương.
Ngoài ra, trong trường hợp nếu được sự thoả thuận của tất cả các bên trong một hiệp ước hay một Công ước đã có hiệu lực có quan hệ đến một vấn đề do Công ước Luật biển đề cập, thì bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng hiệp ước hoặc Công ước đó cũng có thể được đưa ra Toà án Quốc tế về Luật biển theo đúng như điều đã thoả thuận.
Thứ ba, thẩm quyền của Toà án Quốc tế về Luật biển trong từng vụ việc
Trong trường hợp các quốc gia thành viên Công ước chưa ra tuyên bố chấp nhận trước thẩm quyền của Toà án khi ký, phê chuẩn hay tham gia Công ước, nếu xảy ra tranh chấp giữa họ hay giữa một bên là quốc gia thành viên và một bên không là quốc gia thành viên thì thẩm quyền của Toà án Quốc tế về Luật biển được hình thành một thoả thuận của hai bên đồng ý đưa vụ việc ra trước Toà án.
1.2.2. Quyền tài phán đối với giải quyết tranh chấp trên biển bằng Toà án quốc tế về Luật biển
Thứ nhất, việc giải thích và áp dụng Công ước Luật biển 1982
Toà án Quốc tế về Luật biển có thẩm quyền giải quyết tranh chấp được đưa ra trước Toà án phù hợp với Phần XV của Công ước liên quan đến việc áp dụng và giải thích Công ước Luật biển 1982 theo khoản 1 Điều 288 và Điều 21 Phụ lục VI, thoả thuận liên quan đến việc thực thi phần XI Công ước Luật biển 1982. Giới hạn và ngoại lệ của việc áp dụng các thủ tục bắt buộc được quy định ở Điều 297 và 298 Công ước Luật biển 1982. Tuy nhiên, mọi tranh chấp liên quan đến Điều 297 và 298 có thể được ra Toà án nếu các bên thoả thuận.
Thứ hai, việc giải thích và áp dụng các thoả thuận khác
Theo khoản 2 Điều 288 của Công ước Luật biển 1982 thì Toà án cũng có thẩm quyền đối với những tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các thoả thuận quốc tế khác liên quan đến mục đích của Công ước hay tất cả những vấn đề của bất kỳ một thoả thuận nào trao thẩm quyền cho Toà án theo Điều 21 Quy chế Toà án Quốc tế về Luật biển. Hiện nay có khoảng 10 thoả thuận đa phương đã trao thẩm quyền cho Toà án quốc tế về Luật biển. Bên cạnh đó, Điều 22 – Phụ lục VI cũng cho phép các bên của những Điều ước đã có hiệu lực và liên quan đến một vấn đề nào đó do Công ước Luật biển 1982 đề cập có thể thoả thuận đưa những tranh chấp phát sinh từ những Điều ước này ra Toà.
[1] Khoản c, Điều 187 Công ước Luật biển năm 1982
– Điểm a, khoản 2, Điều 188 Công ước Luật biển năm 1982
[2] Điều 280, Công ước Luật biển năm 1982.
[3] Điều 20 Quy chế của Toà án Luật biển
[4] Khoản 2, Điều 288, Công ước Luật biển năm 1982
[5] Điều 22, Quy chế Toà án Quốc tế về Luật biển.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0045″]
