THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 21 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0011.
- Pháp luật áp dụng: Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH BẰNG THƯƠNG LƯỢNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH BẰNG THƯƠNG LƯỢNG | 2 |
| 1.1. Khái quát về giải quyết tranh chấp kinh doanh và các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh | 2 |
| 1.1.2. Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh | 2 |
| 1.1.3. Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng | 4 |
| 1.2. Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng | 5 |
| 1.2.1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng | 5 |
| 1.2.2. Chủ thể giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng | 6 |
| 1.2.3. Nội dung của giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng | 7 |
| 1.2.4. Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng | 7 |
| CHƯƠNG 2: KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG THƯƠNG LƯỢNG | 9 |
| 2.1. Các công việc chuẩn bị cho thương lượng giải quyết tranh chấp thương mại | 9 |
| 2.1.1. Thu thập thông tin và tài liệu | 9 |
| 2.1.2. Nghiên cứu hồ sơ | 10 |
| 2.1.3. Tư vấn, định hướng và đề xuất giải pháp giải quyết tranh chấp | 11 |
| 2.1.4. Lập kế hoạch, chiến lược thương lượng | 11 |
| 2.2. Kỹ năng tham gia thương lượng | 12 |
| 2.3. Lập biên bản trong quá trình thương lượng và ghi nhận kết quả thương lượng | 14 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thực tiễn đời sống kinh tế – xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế mở và hội nhập thị trường thì những tranh chấp phát sinh là hiện tượng tất yếu, khách quan trong xã hội. Đối với những nền kinh tế càng phát triển thì tranh chấp kinh doanh càng trở nên đa dạng và phức tạp. Từ đó dẫn đến việc cấp thiết phải có những phương thức giải quyết tranh chấp nhằm ổn định và phát triển kinh tế. Trong các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh được pháp luật Việt Nam công nhận đã có phương thức thương lượng, đây là phương thức được áp dụng rộng rãi, phổ biến trên thế giới cho thấy sự tiến bộ cũng như họi nhập của Việt Nam trong việc xây dựng pháp lý phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế quốc tế hiện nay.
Luật sư có thể tham gia vào phương thức thương lượng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng. Do đó, luật sư có thể là người trực tiếp thương lượng hoặc trợ giúp khách hàng đàm phán giải quyết tranh chấp với đối tác trong phương thức thương lượng. Để bảo đảm được quá trình thương lượng diễn ra thành công, đạt được mục đích mà các bên hướng tới, đòi hỏi Luật sư phải đáp ứng việc nắm vững lý thuyết về thương lượng, các kỹ năng chung trong việc xác định phương pháp, chiến lược, chiến thuật thương lượng. Do đó tôi chọn chủ đề: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng và kỹ năng của Luật sư khi tham gia giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng” để làm bài tiểu luận kết thúc học phần Kỹ năng giải quyết tranh chấp.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH BẰNG THƯƠNG LƯỢNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH BẰNG THƯƠNG LƯỢNG
1.1. Khái quát về giải quyết tranh chấp kinh doanh và các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh
Theo từ điển Tiếng Việt thì tranh chấp được hiểu là sự giành giật, giằng co nhau cái không thuộc về bên nào. Thông thường, về tranh chấp là sự mâu thuẫn, bất động hoặc xung đột giữa các chủ thể trong một mối quan hệ nhất định. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, tuy nhiên nguyên nhân cốt lõi của mọi tranh chấp đều liên quan mật thiết đến lợi ích kinh tến của các bên trong mối quan hệ. Do đó có thể hiểu một cách đơn giản nhất, tranh chấp chính là sự bất đồng, xung đột về quyền lợi, mâu thuẫn về quan điểm của các bên trong một mối quan hệ xã hội nhất định.
Tranh chấp kinh doanh hay còn gọi là tranh chấp thương mại (gọi chung là tranh chấp kinh doanh) là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh
Thứ nhất, về khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh. Giải quyết tranh chấp thông thường có thể hiểu đó là quá trình giải quyết những bất đồng, xung đột về quyền lợi, mâu thuẫn về quan điểm của các bên trong một mối quan hệ xã hội nhất định. Việc giải quyết tranh chấp có thể do các bên tranh chấp đứng ra giải quyết hoặc có sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian giải quyết và trong một số trường hợp còn có sự tham gia của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Giải quyết tranh chấp kinh doanh là việc thông qua những hình thức, cách thức, thủ tục thích hợp để tháo gỡ, giải quyết những bất động, xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ hoạt động kinh doanh.
Thứ hai, đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh. Theo đó, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh có những đặc điểm như sau:
Một là, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh phát sinh khi có mâu thuẫn, xung đột của các bên trong hoạt động kinh doanh. Khi phát sinh tranh chấp tức là có sự bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên thì mới cần đặt ra vấn đề giải quyết tranh chấp. Căn cứ phát sịnh tranh chấp kinh doanh là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật có những trường hợp các bên có sự xâm hại đến lợi ích của nhau do đó xảy ra những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ hoạt động kinh doanh. Từ đó phát sinh yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh.
Hai là, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh luôn đề cao tính tự quyết của các bên. Tức là các bên tham gia giải quyết tranh chấp có quyền tự do lựa chọn các phương thức giải quyết, quyền tự do lựa chọn thực hiện hay không thực hiện tất cả các hành vi mà pháp luật không cấm nhằm hòa giải và tháo gỡ các mâu thuẫn, bất đồng của các bên chủ thể trong các tranh chấp kinh doanh.
Ba là, giải quyết tranh chấp kinh doanh là xóa bỏ các mâu thuẫn, bất đồng xung đột lợi ích phát sinh từ lĩnh vực kinh doanh giữa các bên tranh chấp nhằm tạo lập sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên tranh chấp mong muốn. Đảm bảo lợi ích giữa các chủ thể kinh doanh, giữa các công dân trước pháp luật, góp phần thiết lập sự cân bằng, giữ gìn trật tự kỉ cương tạo nên một môi trường kinh doanh lành mạnh.
Bốn là, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh cần đáp ứng các yêu cầu: Nhanh chóng, thuận lợi, không bị hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh, thương mại; Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh, thương mại; Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên; Ít tốn kém nhất.
Năm là, phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh rất đa dạng. Để giải quyết tranh chấp kinh doanh, các bên có thể thông qua rất nhiều phương thức khác nhau như: Thương lượng, hào giải, trọng tài thương mại và Tòa án. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn các phương thức thích hợp để giải quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả cao nhất và hướng cho các bên tranh chấp lựa chọn phương thức giải quyết có lợi nhất.
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng
1.1.3.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất động đã phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bên thứ ba.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng thương lượng là sự thể hiện quyền tự do thỏa thuận, tự do định đoạt của các bên tranh chấp. Quá trình thương lượng để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp và kết hợp thương lượng trực tiếp với thương lượng gián tiếp.
1.1.3.2. Đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng
Thứ nhất, phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng thông qua cơ chế các bên tự gặp nhau, bàn bạc, thảo luận để đi đến phương hướng giải quyết mà không cần có mặt của bên thứ ba để trợ giúp hay đưa ra phán quyết. Điều kiện để thương lượng một tranh chấp kinh doanh, trước hết phải xem xét thỏa mãn: Có tranh chấp kinh doanh xảy ra không? Các bên mong muốn loại bỏ mâu thuẫn khắc phục tổn thất tiếp tục duy trì, quan hệ hợp tác và các bên đều có tinh thần thiện chí, nhân nhượng, tôn trọng và giữ gìn uy tín cho nhau không?
Thứ hai, quá trình thương lượng giữa các bên không chịu sự ràng buộc của bất kỳ nguyên tắc pháp lý nào. Thương lượng là quá trình trao đổi ý kiến bày tỏ ý chí giữa các bên nhằm tìm được biện pháp tháo gỡ những xung đột, vướng mắc. Do đó, quá trình thương lượng giữa các bên không chịu sự ràng buộc của bất kì nguyên tắc pháp lý hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của mỗi bên mà không có cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng. Giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng là sự thể hiện quyền tự do thỏa thuận, tự do định đoạt của các bên trong tranh chấp. Các bên tự thỏa thuận, tự thống nhất ý chí về phương án giải quyết, thỏa thuận theo trình tự, thủ tục tự chọn để giải quyết các bất đồng, xung đột mà không có sự tham gia hay can thiệp của bất kỳ cơ quan nhà nước nào.
1.2. Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng
1.2.1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo chung mang tính định hướng cho việc xây dựng, thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh nói chung và giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng nói riệng. Về mặt lý luận thì việc xây dựng nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng, cần đảm bảo những nội dung sau:
Thứ nhất, thương lượng các tranh chấp kinh doanh phải phù hợp với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội;
Thứ hai, thương lượng phải tuân thủ quyền tự do ý chí của các bên trong tranh chấp;
Thứ ba, thương lượng được thực hiện theo tiêu chuẩn khách quan, công bằng, hợp lý tôn trọng tập quán thương mại trong nước và quốc tế
Thứ tư, bảo toàn bí mật tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các bên trong quá trình thương lượng
Thứ năm, kết quả thương lượng phải cụ thể, rõ ràng, dễ thực hiện.
Thứ sáu, các bên phải tôn trọng và tự giác thi hành các kết quả của thương lượng.
Như vậy, việc cần có những nguyên tắc để điều chỉnh vấn đề về giải quyết tranh chấp bằng thương lượng là rất cần thiết là kim chỉ nam cho định hướng giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp còn thiếu sót nhiều quy định của pháp luật thì việc cần có những nguyên tắc chung là rất quan trọng góp phần giải quyết các tranh chấp một cách nhanh chóng, triệt để giữ ổn định tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2. Chủ thể giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng
Chủ thể giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng là các bên tranh chấp trong hoạt động kinh doanh.
Các bên tranh chấp chủ yếu là các thương nhân với nhau (phát sinh tranh chấp liên quan đến hợp đồng trong kinh doanh) hoặc tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau, tranh chấp giữa thành viên công ty và công ty (về hoạt động liên quan đến tổ chức quản lý, tổ chức lại công ty hoặc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp). Ngoài các chủ thể là thương nhân, chủ thể khác tham gia trong tranh chấp kinh doanh có thể không phải là thương nhân, ví dụ như tranh chấp từ hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa giữa thương nhân nhận ủy thác mua bán hàng hóa với khách hàng ủy thác mua bán hàng hóa không phải là thương nhân
