![[Tiểu luận 2025] Có ý kiến cho rằng: “Trừng trị là mục đích của hình phạt”. Ý kiến của anh chị về vấn đề này? [Tiểu luận 2025] Có ý kiến cho rằng: “Trừng trị là mục đích của hình phạt”. Ý kiến của anh chị về vấn đề này?](https://cdn.tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2025/01/nhan-dinh-trung-tri-la-muc-dich-cua-hinh-phat.png)
THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 03 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
- Năm: 2025 / Mã số: B0537.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
BÀI LÀM
Mục đích của hình phạt là một trong các vấn đề quan trọng trong luật hình sự không chỉ về lý luận mà cả trong thực tiễn. Mục đích hình phạt là cơ sở để các nhà làm luật quy định từng loại hình phạt, hệ thống các hình phạt cũng như quyết định hình phạt đối với từng tội phạm. Đây cũng là cơ sở để nhà làm luật áp dụng hình phạt trên thực tế. Mục đích của hình phạt tưởng chừng như đã rõ ràng và đơn giản nhưng theo học viên đây là một vấn đề phức tạp, thể hiện ở chỗ đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau chưa thống nhất về mục đích của hình phạt.
Mục đích được hiểu là mục tiêu, đích đến, là cái mà con người hướng tới khi tiến hành một loại hình công việc nào đó. Số đông các quan điểm về mục đích của hình phạt đều thừa nhận hình phạt có mục đích trừng trị, bên cạnh mục đích trừng trị thì hình phạt còn có các mục đích khác như: Phòng ngừa tội phạm, Lập lại công bằng xã hội cũng như cải tạo người bị kết án, Bồi thường thiệt hại cho xã hội và cho nạn nhân. Một số quan điểm khác lại cho rằng mục đích của hình phạt không có mục đích trừng trị mà chỉ có mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội để họ sớm trở thành người lương thiện, ngăn ngừa họ phạm tội mới và hướng vào việc giáo dục, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, học viện cho rằng nhận định “Trừng trị là mục đích của hình phạt” là đúng, bởi lẽ:
Thứ nhất, mục đích trừng trị người phạm tội có cả quá trình lịch sử lập pháp lâu dài
Mục đích này của hình phạt đã được ghi nhận xuyên suốt từ Điều 20 BLHS năm 1985, Điều 27 BLHS năm 1999 và đến Điều BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, theo đó đều khẳng định mục đích của hình phạt trước hết là nhằm trừng trị người phạm tội, ngoài ra hình phạt còn một số mục đích khác. Theo quy định tại Điều 31 BLHS hiện hành thì: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm”.
Thứ hai, hình phạt thể hiện mục đích trừng trị thông qua tính chất tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền nhất định của người phạm tội
Công lý và công bằng xã hội đòi hỏi người nào gây ra tội phạm đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Hình phạt với vai trò là chế tài cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước lúc này trở thành phương tiện hữu hiệu và thích đáng để trừng trị tội lỗi của người phạm tội. Xét về nội dung thì bất cứ hình phạt nào cũng chứa đựng trong nó sự tước bỏ hoặc hạn chế nhất định một số quyền của người bị áp dụng về thể chất, tinh thần hoặc tài sản. Mức độ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế quyền này của hình phạt phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội. Điều đó có nghĩa là tội phạm càng nguy hiểm thì mức độ trừng trị càng nghiêm khắc, theo đó trong hệ thống hình phạt Việt Nam có một số hình phạt chủ yếu mang tính trừng trị như: Tù chung thân, Tử hình… Những hình phạt này cũng lý giải và bác bỏ quan điểm trừng trị không phải là mục đích của hình phạt mà chỉ là phương thức cải tạo giáo dục người phạm. Hình phạt tử hình là hình phạt có tính nghiêm khắc cao nhất, tước bỏ tính mạng của người phạm tội thì không thể coi hình phạt này chỉ thuần túy là phương thức cải tạo giáo dục người phạm tội. Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định mục đích trừng trị này của hình phạt không phải là sự trả thù của Nhà nước đối với người phạm tội.
Thứ ba, với mục đích trừng trị, hình phạt thể hiện sự lên án, thái độ nghiêm khắc của Nhà nước, của xã hội đối với người phạm tội
Thái độ lên án này của Nhà nước và xã hội trước hết biểu hiện cụ thể bằng việc buộc người phạm tội phải chịu hình phạt (sự hạn chế hoặc tước bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của họ) tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Hình phạt cũng có thể hạn chế đến loại trừ điều kiện phạm tội của người bị kết án.
Tuy nhiên, việc quy định hình phạt đối với từng tội phạm không chỉ căn cứ vào mục đích của tội phạm mà còn căn cứ vào nhiều yếu tố khác như yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, tính nguy hiểm của mỗi loại tội phạm… nhưng có thể khẳng định mục đích của hình phạt luôn giữ vai trò quan trọng hàng đầu. Điều này lí giải cho việc trong hệ thống hình phạt của nước ta có một số hình phạt mang tính cưỡng chế thấp, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước như hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ.
Tóm lại, hình phạt có mục đích trừng trị người phạm tội. Tuy nhiên, ngoài mục đích trừng trị thì hình phạt còn hướng tới mục đích cuối cùng là tác động vào ý thức, tư tưởng của người phạm để họ nhận thức được cái sai lầm của mình, tự sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội. Trừng trị nghiêm minh chính là yếu tố tiên quyết và quan trọng để đảm bảo mục đích giáo dục, cải tạo của hình phạt.
Nhận thức đúng về mục đích của hình phạt có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, đây là cơ sở giúp cán bộ áp dụng pháp luật đúng các căn cứ quyết định hình phạt, tránh được cả hai khuynh hướng tả khuynh và hữu khuynh (không được xem nhẹ nhưng cũng không được tuyệt đối hóa mục đích trừng trị hoặc tuyệt đối hóa mục đích giáo dục của hình phạt) từ đó có thể quyết định hình phạt chính xác, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tạo điều kiện cho người phạm tội cải tạo trở thành người lương thiện, sớm hòa nhập với cộng đồng./.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |
