THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 20 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0018.
- Pháp luật áp dụng: Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Đánh giá thực trạng thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ hiện nay | 2 |
| 2. Quá trình khởi kiện | 2 |
| Tóm tắt vụ việc tranh chấp | 2 |
| Luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng | 3 |
| Chế tài được áp dụng | 3 |
| Quyết định của Tòa án | 4 |
| 3. Đánh giá, bình luận phán quyết của Tòa án | 5 |
| 4. Bài học kinh nghiệm | 6 |
| KẾT LUẬN | 8 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 9 |
| BẢN ÁN GỐC | 10 |
LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến việc soạn thảo hợp đồng, trừ một vài doanh nghiệp lớn. Hầu hết các doanh nghiệp trước khi ký một hợp đồng nào đó thường vào mạng internet tìm một vài hợp đồng mẫu mà không biết rằng không có một hợp đồng chuẩn mực nào cho mọi mối quan hệ trong kinh doanh. Vì thế khi tranh chấp xảy ra, doanh nghiệp gặp rất nhiều bất lợi do hợp đồng quy định không đúng hoặc không đầy đủ, chưa kể đến việc đối tác có thể lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bên còn lại để đưa vào những điều khoản có lợi cho bên họ mà bất lợi cho bên kia.
Trước khi bắt đầu một thương vụ, các chủ thể đều không muốn có tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, tranh chấp vẫn tồn tại, một trong số đó không thể không kể đến tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng thương mại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để hạn chế đến mức thấp nhất khả nnawg xảy ra tranh chấp là điều luôn được quan tâm. Để đảm bảo lợi ích của bản thân trong trường hợp tranh chấp xảy ra thì chúng ta cần nghiên cứu và phân tích các bản án hiện hành để hiểu rõ cách giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh.
Để có thể hiểu rõ hơn và thực tế hơn hoạt động thương mại trong nước, nắm rõ hơn các điều luật thương mại, em đã quyết định chọn Bản án số: 02/2018/KDTM-ST ngày 05/11/2018 tại Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm về tranh chấp hợp đồng hợp đồng cung ứng dịch vụ vận chuyển để nghiên cứu và phân tích. Hiện nay, ở Việt Nam các quy định về Hợp đồng cung ứng dịch vụ vẫn còn thiếu, chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, các nghiên cứu về Hợp đồng cung ứng dịch vụ vận chuyển chưa thực sự chuyên sâu. Vì thế, trong nghiên cứu dưới đây của mình, em hy vọng đóng góp một phần nhỏ để làm cơ sở hoàn thiện các quy định về Hợp đồng cung ứng dịch vụ và giúp cho doanh nghiệp quản trị hoạt động của mình tốt hơn.
Do còn nhiều hạn chế trong việc tổng hợp, tiếp thu các điều luật và tư duy về bản án chưa được sắc bén nên bài luận phân tích bản án dưới đây tránh khỏi những thiếu sót cơ bản nhất khi thực hiện bài luận này. Vì vậy, em rất mong sẽ nhận được các ý kiến đóng góp đến từ cô để có thể hoàn thiện hơn và hiểu hơn về việc nghiên cứu luật cũng như phân tích các bản án trong tương lai.
1. Đánh giá thực trạng thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ hiện nay
Hợp đồng cung ứng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên khi tham gia hợp đồng, theo đó một bên được gọi là bên cung ứng dịch vụ thì bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán từ bên mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện dịch vụ cho đó là bên sử dụng dịch vụ hay còn được gọi là khách hàng thì bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận (quy định tại Khoản 9 Điều 3 Luật Thương mại 2005).
Đại dịch Covid-19 bùng phát từ cuối tháng 01/2020 gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, văn hóa, xã hội và đời sống con người trên toàn thế giới. Đại dịch đã gây áp lực nặng nề lên khả năng sản xuất và dây chuyền cung ứng toàn cầu và cũng chính đại dịch cũng mở ra con đường mới để ngành cung ứng dịch vụ vận chuyển phát triển.
Nhiều hợp đồng cung ứng dịch vụ vận chuyển đã được thực hiện dưới nhiều hình thức như văn bản hoặc lời nói. Các vấn đề và tranh chấp phát sinh xoay quanh hợp đồng cung ứng dịch vụ vận chuyển cũng ngày càng nhiều và phức tạp. Nhiều thương nhân còn chưa thực sự nắm rõ với những quy định mới về loại hợp đồng cung ứng dịch vụ vận chuyển. Thông qua việc phân tích bản án dưới đây, chúng ta sẽ có cái nhìn cụ thể hơn về vấn đề này.
2. Quá trình khởi kiện
Tóm tắt vụ việc tranh chấp
– Cuối năm 2013, Công ty Trách nhiệm hữu hạn K thực hiện dịch vụ vận chuyển theo yêu cầu của Công ty cổ phần U, hợp đồng thành lập bằng lời nói.
– Công ty K xuất hóa đơn ngày 31/12/2013 với tổng giá trị 107.082.450 đồng. Công ty K nhiều lần yêu cầu công ty U thanh toán nhưng công ty U không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán trị giá 113.677.763 đồng.
– Nay, công ty K yêu cầu công ty U phải thanh toán tiền thù lao dịch vụ và tiền lãi chậm trả tính đến ngày 31/08/2018 có tổng trị giá 200.273.538 đồng.
Luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng
– Luật thương mại 2005 ở Điều 74, Điều 85, Điều 87, Điều 233, Điều 236 và Điều 306.
– Luật tố tụng dân sự 2015 ở Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227.
– Luật Dân sự 2015 ở Điều 351, Điều 357 và Điều 468.
Chủ thể: thương nhân
– Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn K
Theo Hợp đồng cung ứng dịch vụ vận chuyển được thực hiện theo yêu cầu bằng lời nói, công ty trách nhiện hữu hạn K đã kiện công ty cổ phần U và đòi bồi thường thiệt hại do không thực hiện hợp đồng đã thiết lập giữa hai bên, tổng cộng 200.273.538 đồng.
– Bị đơn: Công ty cổ phần U
Công ty cổ phần U không bác bỏ khiếu nại của công ty trách nhiệm hữu hạn K.
Chế tài được áp dụng
– Buộc thực hiện đúng hợp đồng (Điều 297 Luật thương mại)
“3. Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý.”
– Phạt vi phạm (Điều 300 Luật thương mại)
“Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này.”
– Bồi thường thiệt hại (Điều 302 Luật thương mại)
“1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.
- Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”.
– Chậm thanh toán (Điều 306 Luật thương mại)
“Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
Quyết định của Tòa án
– Thứ nhất, hợp đồng cung ứng dịch vụ vận chuyển của của công ty K và công ty U năm 2014, 2014 là có thật và hoàn toàn tự nguyện. Giao dịch thương mại đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định tại Khoản 1 Điều 74 và Điều 233 của Luật thương mại năm 2005 nên được pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ.
– Thứ hai, yêu cầu khởi kiện của công ty K đối với khoản tiền dịch vụ mà công ty U chưa trả là 113.677.763 đồng được Hội đồng xét xử chấp nhận chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 79.050.234 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đến khi án có hiệu lực pháp luật, tiền lãi vẫn phải chịu lãi suất trung bình trên thị trường cho đến khi án có hiệu lực pháp luật.
– Thứ ba, quyết định của tòa án buộc công ty U phải trả cho công ty K tổng số tiền là 192.727.997 đồng. Căn cứ Khoản 1 Điều 85, Điều 87 (Về nghĩa vụ của khách hàng đối với bên nhạn cung ứng dịch vụ thanh toán) và Khoản 6 Điều 236 Luật thương mại 2005 thì quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty K đối với khoản tiền dịch vụ mà U chưa trả. Căn cứ Điều 306 Luật thương mại 2005 và cách tính lãi suất trung bình trên thị trường được hướng dẫn tại án lệ số 09.2016 án lệ ngày 17/10/2016 thì Hội đồng xét xử đã tính lại tổng số tiền lãi chấm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 79.050.234 đồng.
3. Đánh giá, bình luận phán quyết của Tòa án
– Quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp là tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Tại Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã nêu rõ những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo khoản 1 Điều 30, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Vì vậy, tranh chấp giữa công ty trách nhiệm hữu hạn K và công ty cổ phần U là tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án…
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0018″]
