THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 22 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0069.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Lao động năm 2019.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG | 3 |
| 1.1. Những lý luận chung về hợp đồng lao động | 3 |
| 1.1.1. Khái niệm hợp đồng lao động | 3 |
| 1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng lao động | 3 |
| 1.1.3. Ý nghĩa của hợp đồng lao động | 4 |
| 1.1.4. Loại hợp đồng lao động | 5 |
| 1.2. Nội dung quy định pháp luật về hợp đồng lao động | 5 |
| 1.2.1. Giao kết hợp đồng lao động | 5 |
| 1.2.2. Thực hiện, sửa đổi và tạm hoãn hợp đồng lao động | 8 |
| 1.2.3. Chấm dứt hợp đồng lao động | 9 |
| 1.2.4. Hợp đồng lao động vô hiệu | 10 |
| 1.3. Đánh giá | 10 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH HƯNG YÊN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ | 12 |
| 2.1 Giới thiệu chung về các khu công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên | 12 |
| 2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng lao động trong các khu công nghiệp ở tỉnh Hưng Yên | 12 |
| 2.2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao kết hợp đồng lao động | 12 |
| 2.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật lao động về thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động | 14 |
| 2.3. Kiến nghị | 16 |
| KẾT LUẬN | 18 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 19 |
LỜI MỞ ĐẦU
Lao động là nhu cầu thiết yếu, là đặc trưng cho hoạt động sống của con người trong xã hội hiện nay. Nên, mỗi người không còn có thể tiến hành hoạt động lao động, sinh sống theo lối tự túc, đơn lẻ mà quan hệ lao động trở thành một quan hệ xã hội có tầm quan trọng đặc biệt, không chỉ đối với mỗi cá nhân mà là sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia, của toàn cầu. Vì vậy, cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ này. Chính vì thế, chế định Hợp đồng lao động cũng là tâm điểm của pháp luật lao động nước ta.
Với dân số đông, cơ cấu dân số trẻ như Việt Nam, vấn đề lao động- việc làm luôn là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu trong các vấn đề xã hội. Việc các khu công nghiệp được thành lập ở các địa phương đã góp phần phát triển kinh tế- xã hội đồng thời, giải quyết được lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động ở các địa phương. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, quan hệ hợp đồng lao động trong các khu công nghiệp ở các địa phương trong cả nước đang nổi lên rất nhiều vấn đề đáng quan tâm, lo ngại với nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật, mâu thuẫn, tranh chấp, bất ổn. Bên cạnh những thành công về kinh tế đã đạt được thì trong quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có những diễn biến phức tạp do mâu thuẫn trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động (HĐLĐ) giữa người lao động và người sử dụng lao động, còn nhiều “lỗ hổng”, gây khó khăn cho việc xây dựng mối quan hệ hài hòa, ổn định trong các khu công nghiệp ở địa bàn tỉnh Hưng Yên. Nhiều doanh nghiệp trong các khu công nghiệp ở Hưng Yên gần đây thiếu lao động trầm trọng trong khi số lao động không có việc làm của tỉnh còn rất nhiều, bên cạnh đó những lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn gặp không ít khó khăn, bất cập trong việc ký kết và áp dụng pháp luật lao động ở các khu công nghiệp ở tỉnh Hưng yên. Từ thực tiễn đó đòi hỏi pháp luật lao động cần phải có những thay đổi một cách kịp thời để ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật lao động trong các doanh nghiệp. Tuy Quốc Hội đã ban hành Bộ luật Lao động năm 2019 để thay thế Bộ luật Lao động năm 2012 nhưng đánh giá một cách tổng thể thì Bộ luật Lao động năm 2019 trong đó phần Hợp Đồng Lao Động vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế, vướng mắc trong quá trình áp dụng thực tế vào các doanh nghiệp. Vì vậy, em đã chọn “Pháp luật về hợp đồng lao động qua thực tiễn áp dụng trong các khu công nghiệp tại tỉnh Hưng Yên” làm bài tiểu luận kết thúc học phần.
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
1.1. Những lý luận chung về hợp đồng lao động
1.1.1. Khái niệm hợp đồng lao động
Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.”[1] Có chỉnh sửa bổ sung thêm một cụm từ so với quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 là “Trả công” đã từng quy định ở Bộ luật Lao động năm 1994.
Vậy, Hợp Đồng Lao Động là sự thỏa thuận trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện giữa người lao động và người sử dụng lao động về các nội dung của hợp đồng. Trong đó, người lao động chịu sự quản lý của người sử dụng lao động, cam kết làm một hoặc một số công việc để hưởng lương và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng lao động
Thứ nhất, Đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm. Hợp đồng lao động thực chất là hợp đồng mua bán sức lao động. Người cung cấp sức lao động ở đây là Người lao động và người có nhu cầu sử dụng sức lao động là người sử dụng lao động. Tuy nhiên, đây là hợp đồng mua bán đặc biệt bởi sức lao động – đối tượng mua bán của hợp đồng là một loại “hàng hoá” đặc biệt.
Thứ hai, Người lao động phải tự mình thực hiện công việc trong hợp đồng và chịu sự quản lí của người sử dụng lao động. Các chủ thể giao kết hợp đồng có thể tự mình thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc có thể uỷ quyền cho chủ thể khác giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, đối với hợp đồng lao động và phải tự mình thực hiện công việc trong hợp đồng.
Thứ ba, Hợp đồng lao động được thực hiện trong một thời gian nhất định và tại địa điểm đã được thoả thuận. Các bên có thể thực hiện hợp đồng trong một khoảng thời gian rất ngắn thì hợp đồng lao động bao giờ cũng được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định thậm chí là không xác định.Sức lao động chỉ có thông qua quá trình lao động của người lao động và thoả thuận để xác định rõ địa điểm.
Thứ tư, Những thoả thuận trong hợp đồng lao động thường chỉ trong giới hạn pháp lí nhất định và phải trên cơ sở quy định của pháp luật, phù hợp với pháp luật.
1.1.3. Ý nghĩa của hợp đồng lao động
Thứ nhất, Đối với người lao động, hợp đồng lao động là phương tiện pháp lý quan trọng để thực hiện quyền làm việc và quyền tự do việc làm của mình. Hợp đồng lao động là phương tiện để người lao động tự do lựa chọn thay đổi việc làm, nơi làm việc phù hợp với khả năng, sở thích và nhu cầu của mình.
Thứ hai, Đối với người sử dụng lao động hợp đồng lao động là phương tiện pháp lý quan trọng để người sử dụng lao động thực hiện quyền tự chủ trong thuê mướn và sử dụng lao động. Trong khuôn khổ pháp luật cho phép, người sử dụng lao động có thể thoả thuận với người lao động các nội dung cụ thể của quan hệ lao động cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình hay thay đổi nội dung hợp đồng lao động hoặc thoả thuận để chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn.
Thứ ba, Đối với nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước là công cụ pháp lý quan trọng trong việc tạo lập và phát triển thị trường lao động. Là hình thức pháp lý phù hợp đảm bảo sự bình đẳng, tự do và tự nguyện của các bên khi xác lập quan hệ lao động và cơ sở pháp lý để nhà nước kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật.
1.1.4. Loại hợp đồng lao động
Quy định tại Điều 20 Bộ luật Lao động năm 2019 đã bỏ nội dung về hợp đồng mùa vụ hoặc theo một công việc có thời hạn dưới 12 tháng, thay vào đó chỉ còn 02 loại hợp đồng là: hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng lao động xác định thời hạn[2].Quy định này được đánh giá là tiến bộ lớn của pháp luật lao động nhằm bảo vệ người lao động, hạn chế tình trạng người sử dụng lao động “lách luật”, không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động bằng cách ký các loại hợp đồng,…
1.2. Nội dung quy định pháp luật về hợp đồng lao động
1.2.1. Giao kết hợp đồng lao động
1.2.1.1. Hình thức hợp đồng lao động
Theo quy định tại Điều 14 Bộ luật Lao động thì hình thức hợp đồng lao động gồm: Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.
– Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật này[3]. Có thể thấy, Bộ luật Lao động năm 2019 đã quy định bổ sung về việc hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Tuy nhiên, cần làm rõ, hình thức giao kết hợp đồng bằng văn bản không chỉ hiểu ở dạng giấy tờ mà còn dưới dạng email, các giao dịch điện tử. Do đó, đối với việc hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu thì sẽ được hiểu là GKHĐ lao động bằng văn bản.
[1] Quy định tại khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019
[2] Điều 20 Bộ luật Lao động năm 2019.
[3] Quy định tại Điều 14 Bộ luật Lao động năm 2019.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0069″]
