THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 22 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0038.
- Pháp luật áp dụng: Luật Cạnh tranh năm 2018
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ VÀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ | 2 |
| 1.1. Khái quát về tập trung kinh tế | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tập trung kinh tế | 2 |
| 1.1.2. Phân loại tập trung kinh tế | 2 |
| 1.2. Tổng quan về pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế | 3 |
| 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế | 3 |
| 1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế | 4 |
| 1.2.3. Mục đích của kiểm soát tập trung kinh tế | 4 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ | 5 |
| 2.1. Quy định về các hình thức tập trung kinh tế | 5 |
| 2.2. Thông báo tập trung kinh tế theo ngưỡng | 6 |
| 2.2.1. Trường hợp tập trung kinh tế được tự do thực hiện | 6 |
| 2.2.2. Trường hợp tập trung kinh tế được xem xét chấp nhận | 6 |
| 2.2.3. Trường hợp tập trung kinh tế bị cấm | 7 |
| 2.3. Quy định về thẩm định việc tập trung kinh tế và đánh giá tác động của việc tập trung kinh tế | 7 |
| 2.4. Cơ quan thực hiện kiểm soát tập trung kinh tế | 9 |
| 2.5. Xử lý vi phạm tập trung kinh tế | 10 |
| 2.6. Thực trạng thực thi pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam. | 11 |
| 2.7. Một số bất cập trong pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế. | 13 |
| CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM | 15 |
| 3.1. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về kiểm soát tập trung kinh tế | 15 |
| 3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế | 15 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Tập trung kinh tế (TTKT) là một hiện tượng phổ biến, tất yếu trong đời sống thực tiễn kinh doanh, là hành vi của doanh nghiệp nhằm tìm kiếm một năng lực kinh doanh mới trước áp lực cạnh tranh của nền kinh tế thị trường ngày một gia tăng với sự xuất hiện của các công ty đa quốc gia hội tụ những tiềm lực kinh tế mạnh mẽ, đã đang và sẽ tiến hành các giao dịch tập trung kinh tế nhằm hình thành vị trí độc quyền, tác động tiêu cực đến nền kinh tế còn non trẻ của Việt Nam.
Không thể phủ nhận những tác động tích cực mà TTKT mang lại cho doanh nghiệp cũng như môi trường kinh doanh, nhưng bên cạnh đó trong một số trường hợp TTKT lại có khả năng làm giảm, làm sai lệch, cản trở cạnh tranh ảnh hưởng to lớn đến đối thủ cạnh tranh qua việc làm giảm số lượng hay hạn chế khả năng gia nhập thị trường cũng như người tiêu dùng qua việc nâng giá thành sản phẩm, giảm sự lựa chọn.
Trong bối cảnh đó, Luật Cạnh tranh năm 2018 đã được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2018 đã tạo ra một hành lang pháp lý cho hoạt động TTKT của các doanh nghiệp cũng như kiểm soát, ngăn chặn các hành vi TTKT gây hại cho môi trường cạnh tranh trên thị trường. Mặc dù đã hoàn thiện, khắc phục những thiếu sót của Luật Cạnh tranh năm 2004, tuy nhiên đây là chế định còn khá mới mẻ trong nền khoa học pháp lý, qua thực tiễn triển khai và áp dụng còn xuất hiện một số hạn chế, bất cập, khó khăn nhất định.
Chính vì vậy, trên cơ sở thực tiễn em xin chọn đề tài “Pháp luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát tập trung kinh tế – Một số bất cập và phương hướng hoàn thiện” để làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần của mình.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ VÀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ
1.1. Khái quát về tập trung kinh tế
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tập trung kinh tế
* Khái niệm:
Dưới góc độ pháp luật Việt Nam, Luật Cạnh tranh năm 2018 tuy đã không định nghĩa một cách cụ thể như thế nào là TTKT[1], nhưng đã khái quát các hình thức của TTKT1, bao gồm:
- Sáp nhập doanh nghiệp
- Hợp nhất doanh nghiệp
- Mua lại doanh nghiệp
- Liên doanh giữa các doanh nghiệp
- Các hình thức tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật
* Đặc điểm:
Thứ nhất, chủ thế thực hiện TTKT là các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường
Thứ hai, hành vi tập trung kinh tể được thực hiện dưới những hình thức nhất định theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, thông qua việc thực hiện các hình thức tập trung kinh tế sẽ dẫn đến hậu quả là hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn mạnh, thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh trên thị trường.
Thứ tư, dựa trên những tiêu chí nhất định theo các quy định của pháp luật cạnh tranh, Nhà nước sẽ kiểm soát các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế
1.1.2. Phân loại tập trung kinh tế
Căn cứ vào vị trí của các chủ thể tham gia tập trung kinh tế theo cấp độ kinh doanh, tập trung kinh tế được chia thành:
Tập trung kinh tế theo chiều ngang: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh… thường diễn ra giữa hai doanh nghiệp cùng nằm ở một cấp độ trong chuỗi sản xuất hay nói cách khác đó là những doanh nghiệp trên cùng một thị trường liên quan.
Tập trung kinh tế theo chiều dọc: là sự hợp nhất, sáp nhập, mua lại hoặc liên doanh giữa các doanh nghiệp ở những cấp độ khác nhau của chuỗi sản xuất tức là những doanh nghiệp có quan hệ người mua – người bán với nhau.
Tập trung kinh tế dạng hỗn hợp: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh của những doanh nghiệp không phải là đối thủ của nhau và cũng không có những mối quan hệ mua bán thực sự hoặc tiềm năng trên thị trường liên quan.
1.2. Tổng quan về pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế
* Khái niệm:
Pháp luật về kiểm soát TTKT là hệ thống các quy định và công cụ pháp luật thực hiện chính sách cạnh tranh và TTKT nói riêng, điều chỉnh các hoạt động kiểm soát tập trung quyền lực thị trường nhằm duy trì và bảo vệ cạnh tranh trên thị trường[2].
* Đặc điểm:
Thứ nhất, pháp luật kiểm soát TTKT là một lĩnh vực pháp luật công, mang tính quyền lực của Nhà nước, thể hiện ở việc điều tra, xử phạt các hành vi TTKT bị cấm.
Thứ hai, về quan hệ kiểm soát TTKT, bao gồm chủ thể kiểm soát hoạt động TTKT là cơ quan nhà nước được giao quản lý hoạt động cạnh tranh và chủ thể tham gia TTKT là doanh nghiệp (bao gồm chủ đầu tư trong nước và nước ngoài).
Thứ ba, mặc dù là một hình thức kiểm soát của cơ quan Nhà nước nhưng kiểm soát TTKT không mang nặng tính chất cấm đoán, công quyền, áp đặt mà ngược lại các quy định của pháp luật lại luôn song hành và tạo điều kiện cho việc thực hiện quyền tự chủ trong kinh doanh của các doanh nghiệp.
Thứ tư, pháp luật kiểm soát TTKT và pháp luật doanh nghiệp có mối liên hệ nhất định với nhau. Cả hai đối tượng này đều hướng đến việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của mọi thành phần kinh tế và đảm bảo cho mọi hoạt động kinh doanh sản xuất được diễn ra trong một môi trường công bằng, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh.
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế
– Quy định về hình thức kiểm soát TTKT
– Quy định cấm TTKT
– Quy định về thông báo TTKT
– Quy định về đánh giá tác động TTKT
– Quy định về biện pháp khắc phục và nguyên tắc áp dụng
– Thời gian xem xét và rà soát vụ việc TTKT
– Quy định về điều tra, xử lý vi phạm trong kiểm soát TTKT.
1.2.3. Mục đích của kiểm soát tập trung kinh tế
Tạo ra khuôn khổ và hành lang pháp lý nhằm phát huy những tác động tích cực, tạo ra “sân chơi” công bằng và lành mạnh cho các doanh nghiệp thỏa sức kinh doanh, đồng thời tạo ra một luật lệ đủ chặt để hạn chế các tác động tiêu cực mà hành vi TTKT có thể mang lại.
[1] Khoản 1 Điều 29 Luật Cạnh tranh năm 2018/
[2] Xem Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo Luật Kinh tế, tr. 786.
