![[Tiểu luận 2025] Pháp luật hợp đồng dân sự về “Sự kiện bất khả kháng” từ thực tiễn một số vụ tranh chấp xảy ra tại TP.HCM trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 (MS-B0878) [Tiểu luận 2025] Pháp luật hợp đồng dân sự về “Sự kiện bất khả kháng” từ thực tiễn một số vụ tranh chấp xảy ra tại TP.HCM trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 (MS-B0878)](https://cdn.tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2026/01/phap-luat-hop-dong-dan-su-ve-su-kien-bat-kha-khang-tu-thuc-tien-mot-so-vu-tranh-chap-tai-tp-hcm-1.png)
THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
- Định dạng: WORD
- Số trang: 17 trang (Không bao gồm bìa, Mục lục)
- Năm: 2025 / Mã số: B0878.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| ĐẶT VẤN ĐỀ | 1 |
| 1. Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu | 1 |
| 2. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu | 2 |
| CHƯƠNG I: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG | 3 |
| 1.1. Khái niệm về sự kiện bất khả kháng | 3 |
| 1.2. Điều kiện của sự kiện bất khả kháng | 4 |
| 1.3. Hậu quả pháp lý khi xảy ra sự kiện bất khả kháng | 7 |
| 1.4. Dịch bệnh Covid-19 có hay không phải là sự kiện bất khả kháng? | 8 |
| CHƯƠNG II: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG TRONG HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ | 10 |
| 3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về sự kiện bất khả kháng trong hợp đồng dân sự và kiến nghị | 10 |
| 3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sự kiện bất khả kháng trong hợp đồng dân sự | 13 |
| Thứ nhất, quy định về xác định thế nào là “đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép” và chủ thể có nghĩa vụ “lường trước” sự kiện bất khả kháng | 13 |
| Thứ hai, cần quy định việc thông báo trước cho bên còn lại trong hợp đồng về việc mình gặp sự kiện bất khả kháng | 14 |
| Thứ ba, cần quy định trường hợp sự kiện bất khả kháng đối với bên thứ ba liên quan khi một trong các bên trong hợp đồng gặp sự kiện bất khả kháng | 15 |
| KẾT LUẬN | 16 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 17 |
LỜI MỞ ĐẦU
Dịch bệnh Covid-19 thời gian qua đã diễn ra phức tạp, tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng đến nền kinh tế của thế giới nói chung và kinh tế của Việt Nam nói riêng. Trong đó, đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khu vực phía nam đã gây ra nhiều vụ tranh chấp về hợp đồng trong các lĩnh vực dân sự, thương mại, lao động, xây dựng,… do các bên liên quan gặp khó khăn hoặc không thể thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi chính quyền áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Về nguyên tắc, pháp luật dân sự tôn trọng và ưu tiên áp dụng các thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng của các bên khi phát sinh các loại tranh chấp này, miễn là những thỏa thuận này không trái quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp các bên trong hợp đồng không có sự thỏa thuận hoặc việc thỏa thuận là trái luật thì việc giải quyết các tranh chấp phát sinh cần căn cứ theo các quy định của pháp luật.
Trong pháp luật hợp đồng dân sự, khi việc thực hiện hợp đồng gặp khó khăn trong hoàn cảnh dịch bệnh Covid-19, các chế định thường xuyên được nhắc đến và vận dụng là các chế định về: Thực hiện hợp đồng trong trường hợp HCTĐCB, trong trường hợp gặp TNKQ và SKBKK. Trong đó, các BLDS năm 1995 (Điều 170), BLDS năm 2005 (Điều 161) và BLDS năm 2015 (Điều 156) đều quy định về trường hợp xảy ra SKBKK trong thực tế và không có sự thay đổi qua các thời kỳ. Quy định này đã tạo ra hành lang pháp lý để các bên vận dụng trong trường hợp việc thực hiện hợp đồng bị ảnh hưởng do xảy ra SKBKK nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, vừa đảm bảo lợi ích của nhà nước, xã hội.
Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, việc áp dụng chế định SKBKK quy định trong BLDS năm 2015 trong thực tiễn còn tồn tại một số hạn chế, vướng mắc nhất định xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ việc các bên liên quan chưa hiểu đúng thế nào là “SKBKK”, sự khác nhau giữa “SKBKK” với “HCTĐCB” và “TNKQ” dẫn đến xác định chưa chính xác quyền và nghĩa vụ của mình, hoặc các quy định của pháp luật chưa rõ ràng, minh thị như căn cứ nào để xác định thế nào là “đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”; Có hay không phải thông báo trước cho bên còn lại trong hợp đồng về việc mình gặp SKBKK; Các bên tham gia hợp đồng khi dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra thì có nghĩa vụ lường trước việc không thể thực hiện hợp đồng hay không?; Hoặc một vấn đề khác đặt ra là một trong hai bên hợp đồng được áp dụng SKBKK thì bên thứ ba có hay không được áp dụng SKBKK.
[… Vui lòng tải về để xem đầy đủ nội dung tài liệu này]
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ: Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu! |
