
- Trường học: Đại học Kinh tế Luật
- Điểm số: 9.00 điểm
- Số trang: 39 trang
- Đơn vị thực tập: Văn phòng Luật sư Thiện Đức
- Định dạng file: WORD
- Mã số/Năm: B0792 | Năm 2025
- Luật áp dụng: Bộ luật Dân sự 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG BÁO CÁO THỰC TẬP
Xem trước nội dung trang bìa

Xem trước trang mục lục


MỤC LỤC BÁO CÁO THỰC TẬP
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI CẢM ƠN | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Lý do chọn đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu đề tài | 2 |
| 3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu; | 3 |
| 4. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu; | 4 |
| 5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài; | 4 |
| 6. Bố cục của Báo cáo | 5 |
| CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN LÀ NGOẠI TỆ GIỮA CÁC CÁ NHÂN | 6 |
| 1.1. Các khái niệm ngoại tệ, hợp đồng phân biệt ngoại tệ và ngoại hối | 6 |
| 1.1.1. Khái niệm ngoại tệ, khái niệm hợp đồng, khái niệm hợp đồng vay tài sản | 6 |
| 1.1.2. Phân biệt ngoại tệ và ngoại hối | 7 |
| 1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân | 7 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 | 12 |
| CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN LÀ NGOẠI TỆ GIỮA CÁC CÁ NHÂN, BÌNH LUẬN VÀ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM | 13 |
| 2.1. Pháp luật về hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ theo Bộ Luật dân sự của Belarus và Nga | 13 |
| 2.2. Pháp luật về hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ theo Bộ Luật dân sự của một số quốc gia khác | 16 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 VÀ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM | 20 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN LÀ NGOẠI TỆ GIỮA CÁC CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM – KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT | 21 |
| 3.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam | 21 |
| 3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho vay tài sản giữa các cá nhân trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam | 23 |
| KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 | 26 |
| KẾT LUẬN CHUNG | 27 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 28 |
| PHỤ LỤC | 30 |
| PHỤ LỤC 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI | 30 |
| PHỤ LỤC 2: CÁC BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN LÀ NGOẠI TỆ GIỮA CÁC CÁ NHÂN | 32 |
| 1. Bản án số: 02/2017/DS-ST ngày 11/08/2017 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình | 32 |
| 2. Bản án số 05/2022/DS-ST “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai | 39 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hợp đồng nói chung và hợp đồng cho vay tài sản nói riêng là một giao dịch quan trọng, phổ biến. Trong quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh hay thậm chí là sinh hoạt hằng ngày, để giải quyết các khó khăn tài chính tạm thời, việc vay mượn tài sản trở thành một giải pháp hữu hiệu. Có rất nhiều nguồn vay tài sản như: ngân hàng, các tổ chức cho vay, người thân, bạn bè, … Không chỉ các quốc gia trên thế giới, mà ở nước ta, đối tượng phổ biến nhất của hoạt động vay tài sản có lẽ chính là tiền.
Mỗi quốc gia, khu vực có một đồng tiền khác nhau, chẳng hạn: khối Liên minh Châu Âu sử dụng chung đồng EUR, Canada sử dụng đồng CAD, Hoa Kỳ sử dụng đồng USD, Việt Nam chúng ta sử dụng đồng VND, … Khi hội nhập kinh tế ngày càng phát triển, dòng chảy tiền tệ trên thế giới lưu thông, các quốc gia đều có những khu vực, tổ chức được phép giao dịch ngoại tệ.
Tại Việt Nam, các giao dịch ngày càng đa dạng, nhiều cá nhân trong nước muốn thực hiện giao dịch vay tài sản là ngoại tệ. Tuy nhiên, nước ta hiện nay chỉ cho phép hoạt động mua bán ngoại tệ, cho vay ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cá nhân lưu trú và các trường hợp đặc thù do pháp luật quy định. Hợp đồng vay tài sản là một giao dịch dân sự, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, trung thực, thiện chí, bình đẳng. Mặt khác, BLDS 2015 quy định các bên không được thực hiện những điều cấm của luật, mà luật không cấm ngoại tệ là đối tượng của hợp đồng vay tài sản, vì thế, các bên có thể thỏa thuận vay bằng ngoại tệ. Đây cũng là một hướng đi mở của luật nhưng lại gây khó khăn trong giải quyết tranh chấp. Thực tiễn, đã có một số vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân trong nước, nhưng vì pháp luật còn chưa quy định cụ thể nên vẫn còn nhiều vướng mắc khi xử lý tranh chấp phát sinh.
Cả trong khoa học và thực tiễn xét xử, quan hệ pháp luật vay tín dụng với tài sản là ngoại tệ được tập trung nhiều hơn cả, còn quan hệ vay giữa các cá nhân với tổ chức không phải là tổ chức tín dụng, đặc biệt là giữa các cá nhân lại ít được nghiên cứu. Có nhiều câu hỏi đặt ra với giao dịch này: Hợp đồng này có phù hợp với quy định của luật, pháp luật hay không? Ngoại tệ có được xem là đối tượng của hợp đồng cho vay tài sản hay không? Khi xảy ra tranh chấp sẽ được giải quyết như thế nào? … Đây cũng chính là lý do của bài báo cáo thực tập với đề tài “Pháp luật về hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đối với đề tài hợp đồng vay tài sản, hiện nay, đã có nhiều tác giả thực hiện dưới nhiều hình thức như: luận văn thạc sỹ, tạp chí, sách, báo,… Nhưng với đề tài hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân, trong nước chưa có nhiều công trình nghiên cứu mà chỉ có một số bài viết giới thiệu về loại hợp đồng này. Ở nước ngoài, đã có một số bài nghiên cứu, bài báo về hoạt động vay ngoại tệ giữa các cá nhân.
Sau quá trình tham khảo các bài viết liên quan trong nước và các bài nghiên cứu nước ngoài, tác giả xin đưa ra một số khái quát về tình hình nghiên cứu chung của đề tài như sau:
Thứ nhất, các bài viết trong nước chủ yếu xoay quanh vấn đề tính hợp pháp của việc cho vay ngoại tệ. Phần lớn các bài báo, bài viết nói về các quy định cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mà chưa nói nhiều về giữa các cá nhân trong nước, cá nhân trong nước và cá nhân lưu trú, cá nhân nước ngoài.
Thứ hai, mặc dù hoạt động cho vay ngoại tệ chủ yếu xảy ra giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với cá nhân, cá nhân lưu trú, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng thực tế đã có những tranh chấp về hợp đồng cho vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân trong nước. Vì pháp luật còn chưa quy định rõ ràng nên hướng giải quyết của các Tòa án đang có nhiều quan điểm trái chiều.
Thứ ba, tính tới hiện tại, chưa có bài nghiên cứu chuyên sâu, bài báo cáo thực tập/thực tập, công trình nghiên cứu khoa học nào về đề tài hợp đồng vay ngoại tệ giữa các cá nhân. Chính vì thế, việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết và có giá trị cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.
Tình hình nghiên cứu đề tài được trình bày chi tiết tại Phụ lục 1.
3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu;
3.1. Mục đích nghiên cứu
Bài báo cáo trình bày các vấn đề lý luận về hợp đồng cho vay tài sản là ngoại tệ như: khái niệm hợp đồng cho vay tài sản, khái niệm ngoại tệ, phân biệt ngoại tệ và ngoại hối, các trường hợp được cho vay ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam, … theo pháp luật Việt Nam. Ở chương 2 của bài báo cáo, tác giả sẽ trình bày pháp luật của một số quốc gia và so sánh với pháp luật Việt Nam về vấn đề này. Từ những kết quả phân tích, nghiên cứu ở chương 1, 2, ở chương 3 tác giả sẽ bình luận, nêu quan điểm về thực tiễn giải quyết tranh chấp của Tòa án, cuối cùng đi đến những kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Pháp luật về hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân” được xác định như sau:
– Các khái niệm về ngoại tệ, ngoại hối, hợp đồng vay tài sản nói chung và hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân nói riêng.
– Nghiên cứu bộ luật dân sự của một số quốc gia về hợp đồng cho vay tài sản là ngoại tệ như: Belarus, Hungary, Đức, Nga, Thái Lan,… Đây là nền tảng quan trọng để phân tích, so sánh với pháp luật Việt Nam;
– Nghiên cứu một số bài viết trong và ngoài nước liên quan đến đề tài;
– Nghiên cứu một số bản án trên phạm vi cả nước, liên quan đến hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ đã được tòa án các cấp giải quyết. Đây là cơ sở để tác giả đưa ra những bình luận, và kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
3.3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
– Về mặt nội dung, với bài báo cáo này, tác giả xác định phạm vi nội dung nghiên cứu như sau: (i) trình bày khái niệm ngoại tệ, phân biệt ngoại tệ và ngoại hối dựa vào Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) và một số Thông tư của Ngân hàng Nhà nước; (ii) quy định của BLDS 2015 về hợp đồng vay tài sản, tính hợp pháp của hợp đồng vay tài sản ngoại tệ giữa các cá nhân; (iii) Các quy định chung về hợp đồng, tác giả sẽ không trình bày để hạn chế trùng lặp với các nghiên cứu khác và đảm bảo dung lượng bài báo cáo.
– Về mặt thời gian, hiện nay, BLDS 2015 đang có hiệu lực thi hành và bài báo cáo tập trung nghiên cứu đề tài xoay quanh Bộ luật này.
– Về mặt không gian, bài báo cáo không chỉ nghiên cứu hợp đồng vay ngoại tệ giữa các cá nhân, thực tiễn giải quyết tranh chấp trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam mà còn mở rộng nghiên cứu BLDS sang một số quốc gia như Belarus, Hungary, Đức, Nga, Thái Lan, Ethiopia…
4. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu;
– Phương pháp phân tích, bình luận: đây là phương pháp chủ chốt, xuyên suốt bài báo cáo. Tác giả sử dụng phương pháp này ở chương 1 để phân tích các khái niệm và pháp luật Việt Nam, ở chương 2 để phân tích pháp luật nước ngoài;
– Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong toàn bộ bài báo cáo. Tác giả dùng phương pháp này để khái quát thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân, từ đó, đưa ra các kiến nghị phù hợp;
– Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu ở chương 1 và chương 2. Tác giả sử dụng phương pháp này để phân biệt ngoại tệ và ngoại hối, so sánh giữa các văn bản pháp luật trong nước với nhau và nước ngoài với Việt Nam.
– Phương pháp thống kê áp dụng với các bản án thực tế đã được giải quyết, tìm ra cách thức giải quyết phổ biến của Tòa án và đưa ra giải pháp hữu hiệu;
– Phương pháp lịch sử được sử dụng để trình bày sơ lược sự hình thành của hoạt động vay tài sản.
Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng phương pháp hệ thống lý thuyết,… để thực hiện bài báo cáo.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài;
Về mặt khoa học, bài báo cáo là một công trình nghiên cứu chú trọng vào quy định về hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân. Bài báo cáo xây dựng khái niệm về ngoại tệ, phân biệt ngoại tệ và ngoại hối, phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân, đưa ra điểm tích cực và hạn chế của pháp luật đối với loại hợp đồng này … Từ đó, tác giả đề ra kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật phù hợp. Đề tài hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân chưa được nghiên cứu nhiều, chính vì thế, bài báo cáo có thể góp phần cho hoạt động nghiên cứu, phát triển trong hoạt động vay ngoại tệ giữa các cá nhân.
Về giá trị ứng dụng, bài báo cáo đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật để hoạt động vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân được quy định cụ thể hơn, đó cũng là cơ sở quan trọng để giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, bài báo cáo có thể là tài liệu hữu ích để các tác giả khác phát triển đề tài tương tự.
6. Bố cục của Báo cáo
Ngoài các phần như phần mở đầu, nhật ký thực tập, nhận xét của đơn vị, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì bố cục bài báo cáo bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Pháp luật Việt Nam về hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân;
- Chương 2: Pháp luật dân sự của một số quốc gia về hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân, bình luận và so sánh với pháp luật Việt Nam;
- Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản là ngoại tệ giữa các cá nhân tại Việt Nam – Kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
💡 Bài viết trên website chỉ là trích lược nội dung để đọc thử.
Tài liệu hoàn chỉnh dài 39 trang (Định dạng: Word), bao gồm đầy đủ các phần nội dung như mục lục đã liệt kê ở bên trên.
▼ Kéo xuống phần tải về để tải ngay file đầy đủ chỉ với 119.000 VNĐ!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Luật dân sự 2005;
- Bộ Luật dân sự 2015;
- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015;
- Pháp lệnh Ngoại hối 2005 (sửa đổi, bổ sung 2013);
- Thông tư số 24/2015/TT-NHNN ngày 08 tháng 12 năm 2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 42/2018/TT-Ngân hàng Nhà nước;
- Thông tư số 32/2013/TT-NHNN ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ việt nam, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 03/2019/TT-Ngân hàng Nhà nước.
- Bộ Luật dân sự Belarus;
- Bộ Luật dân sự Đức;
- Bộ Luật dân sự Ethiopia;
- Bộ Luật dân sự Hungary;
- Bộ Luật dân sự Liên Bang Nga;
- Bộ Luật dân sự Québec;
- Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2006.
- Tạp chí Tòa án nhân dân, Trần Linh Huân và Nguyễn Phạm Thanh Hoa, “Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện về hợp đồng vay tài sản”, 2023, nguồn từ: https://tapchitoaan.vn/mot-so-bat-cap-va-kien-nghi-hoan-thien-ve-hop-dong- vay-tai-san8213.html;
- Tạp chí Dân chủ & Pháp luật (2023), “Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- đến 22 [Nội dung tạm ẩn sẽ hiển thị đầy đủ sau khi tài về]
