THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 22 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0138.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Dân sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ YẾU TỐ LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG | 3 |
| 1.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng | 3 |
| 1.1.1. Khái niệm | 3 |
| 1.1.2. Đặc điểm | 3 |
| 1.2. Khái niệm lỗi và vai trò của yếu tố lỗi trong xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng | 5 |
| CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG | 8 |
| 2.1. Điểm khác biệt của yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với yếu tố lỗi trong các loại trách nhiệm pháp lý khác | 8 |
| 2.2. Yếu tố lỗi trong một số trường hợp cụ thể. | 9 |
| CHƯƠNG III: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG | 14 |
| 3.1. Đánh giá các quy định của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng | 14 |
| 3.2. Một số bất cập trong thực tiễn giải quyết trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng | 15 |
| CHƯƠNG IV: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG | 17 |
| KẾT LUẬN | 18 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 19 |
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đã và đang bước vào thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa. Song song với sự tiến bộ, phát triển không ngừng ấy là những hiện tượng tiêu cực xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Đó không chỉ là những hành vi vi phạm thỏa thuận các bên đã giao kết mà còn trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm… không có giao kết hợp đồng, từ đó dẫn đến các thiệt hại nhất định. Vấn đề đặt ra đó là việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật cũng như đảm bảo sự công bằng cho người có quyền và lợi ích bị xâm phạm. Khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi các bên đã có thỏa thuận, việc giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi không có thỏa thuận hết sức phức tạp và khó khăn do không xuất phát từ sự vi phạm nghĩa vụ do các bên chủ thể thiết lập sẵn. Giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm mục đích khôi phục lại những lợi ích bị xâm phạm, bù đắp những hành vi trái pháp luật gây ra và là công cụ pháp lý hữu hiệu để đảm bảo công bằng, văn minh cho xã hội.
Bộ luật dân sự 2015 đã quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hướng có lợi hơn cho người bị thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra. Mặc dù hiện nay Bộ luật dân sự 2015 không quy định lỗi là một trong bốn yếu tố làm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tuy nhiên lỗi vẫn đóng vai trò quan trọng. Việc xác định, đánh giá đúng đắn mức độ lỗi sẽ đem lại ý nghĩa rất to lớn trong việc tránh những sai phạm trong quá trình xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị thiệt hại.
Do vậy, trong phạm vi dung lượng cho phép của bài tiểu luận này, em xin được chọn đề tài số 46: “Vai trò của yếu tố lỗi trong xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam” nhằm phân tích, làm sáng tỏ quy định của pháp luật dân sự hiện hành về yếu tố lỗi, đồng thời chỉ ra thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ YẾU TỐ LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
1.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.1. Khái niệm
Bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng là một trong những chế định có lịch sử sớm nhất của pháp luật dân sự trong lịch sử pháp luật thế giới. Mỗi quốc gia khác nhau, trải qua những thời kỳ lịch sử, phụ thuộc vào quan điểm, truyền thống lập pháp, điều kiện kinh tế – xã hội,… có những quy định khác nhau về bồi thường thiệt hại.
Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01-01- 2017 thay thế Bộ luật dân sự năm 2005 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Chương XX đã có thay đổi cơ bản đối với các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo đó, “người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Quy định này đã đặt yếu tố hành vi gây thiệt hại được chú trọng hơn yếu tố lỗi. Tuy nhiên, việc không quy định lỗi trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại không có nghĩa là yếu tố lỗi không có giá trị. Xác định lỗi có ý nghĩa trong việc xem xét việc giảm mức bồi thường và trách nhiệm của bên bị thiệt hại trong trường hợp họ hoàn toàn có lỗi hoặc cũng có lỗi đối với thiệt hại xảy ra [4].
Mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể về loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, song chúng ta có thể hiểu: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra.
1.1.2. Đặc điểm
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự. Nếu trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bao giờ cũng phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Người có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho người khác phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại những tổn thất về mặt vật chất và tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Việc bồi thường đưoc thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam [5].
Thứ hai, về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bốn điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng gồm: Có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại và có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật. Người nào gây thiệt hại thỏa mãn các dấu hiệu nên trên sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 cũng đã quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cụ thể: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Thứ ba, về nguyên tắc bồi thường thiệt hại. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Về mức bồi thường các bên bên có thể tự thỏa thuận nếu trong trường hợp không tự thỏa thuận được sẽ do cơ quan có thẩm quyền xác định. Hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Thứ tư, về chủ thể chịu trách nhiệm. Thông thường, người có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm BTTH. Tuy nhiên, pháp luật dân sự cũng căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của từng chủ thể gây thiệt hại mà xem xét về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho từng đối tượng khác nhau. Do đó, BLDS 2015 quy định, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng ngoài việc áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật thì còn áp dụng đối với người khác như cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân.
Thứ năm, về mức bồi thường BTTH. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại, pháp luật quy định về nguyên tắc người gây thiệt hại (người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại) phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế xảy ra một cách nhanh chóng kịp thời. Thiệt hại chỉ có thể được giảm trong một số trường hợp đặc biệt đó là người gây thiệt hại không có lỗi, có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của họ.[6].
1.2. Khái niệm lỗi và vai trò của yếu tố lỗi trong xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Khái niệm.
Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó mang lại. Hình thức lỗi khác nhau phản ánh những thái độ tâm lý khác nhau của chủ thể đối với hành vi mà mình thực hiện.
Tại điều 364 BLDS 2015 đã chia lỗi thành 2 loại đó là: lỗi cố ý và lỗi vô ý.
“Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.”[1]
Điều 584 BLDS 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không đề cập đến yếu tố lỗi. Điều này không có nghĩa là không cần yếu tố lỗi trong trách nhiệm BTTH mà là không đặt gánh nặng phải chứng minh lỗi lên người bị thiệt hại. Lỗi là trạng thái tâm lý của con người, do đó việc chứng minh trạng thái đó là rất khó và không cần thiết. Bản thân hành vi gây thiệt hại đã là có lỗi. Nghĩa là chỉ cần chứng minh hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật là xác định được yếu tố lỗi. Mặt khác, trường hợp tài sản gây thiệt hại cũng không cần chứng minh yếu tố lỗi. Cho nên, yếu tố lỗi không được quy định là điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng [4].
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/vai-tro-cua-yeu-to-loi-trong-xac-dinh-trach-nhiem-boi-thuong-thiet-hai-ngoai-hop-dong/
[xyz-ihs snippet=”B0138″]
