THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật – Đại học Huế
- Định dạng: WORD
- Số trang: 21 trang (cả bìa)
- Năm: 2021 / Mã số: B0207.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- Từ khóa: Chứng minh/ Đương sự/ Nghĩa vụ chứng minh
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHĨA VỤ CHỨNG MINH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ | 3 |
| 1.1. Khái quát về chứng minh | 3 |
| 1.2. Khái quát về hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự | 3 |
| 1.3. Vai trò chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự | 4 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC NGHĨA VỤ CHỨNG MINH CỦA ĐƯƠNG SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | 7 |
| 2.1. Đánh giá kết quả thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong thời gian qua tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình | 7 |
| 2.2. Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh của đương sự từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân quận Tân Bình | 9 |
| CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGHĨA VỤ | 13 |
| CHỨNG MINH CỦA ĐƯƠNG SỰ | 13 |
| KẾT LUẬN | 17 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
LỜI MỞ ĐẦU
Tình hình kinh tế xã hội phát triển dẫn đến nhiều quan hệ phát sinh ngày một càng đa dạng và phức tạp. Khi lợi ích của các quan hệ không đồng đều thì tranh chấp xảy ra là điều tất yếu, tranh chấp phát sinh đòi hỏi phải được giải quyết một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời, để duy trì trật tự bình thường của xã hội.
Luật Tố tụng dân sự được xây dựng bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Quá trình tố tụng kéo dài từ khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự cho đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và bất kỳ vụ việc dân sự nào cũng chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữa các bên đương sự, có khi rất phức tạp. Để giải quyết được các vụ việc dân sự này thì mọi vấn đề của vụ việc đều phải được làm rõ thông qua quá trình chứng minh và tranh tụng. Chính vì thế cần phải có quy định rõ ràng về nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể trong hoạt động tố tụng dân sự. Tuy nhiên, một thời gian dài, các nhà làm luật chưa phân định rõ ràng về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự thuộc về chủ thể nào là trọng yếu. Việc hiểu sai lệch khiến cho các bên tranh chấp trong vụ án cho rằng Tòa án phải có nghĩa vụ chứng minh những vấn đề tranh chấp xảy ra giữa các đương sự, trong khi chỉ có chính bản thân các đương sự mới thực sự hiểu rõ “nội tình” bên trong những tranh chấp đó là gì. Chính vì nhận thức chưa đúng mà các đương sự đã đẩy “gánh nặng” chứng minh cho Tòa án dẫn đến việc hủy án vì Tòa án thu thập, đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ khách quan, lượng án tồn đọng ngày càng nhiều.
Có thể nói hoạt động chứng minh là hoạt động cơ bản, quan trọng nhất mà các chủ thể cần hoặc buộc phải thực hiện. Thông qua hoạt động chứng minh, đương sự thực hiện tốt nhất việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; qua đó Tòa án có căn cứ để đưa ra các phán quyết đúng đắn. Mục đích của hoạt động tố tụng là chứng minh và bản án, quyết định của Tòa án chính là kết quả cuối cùng của quá trình chứng minh đó.
Trong công cuộc cải cách và hoàn thiện hệ thống tư pháp Việt Nam, nguyên tắc tố tụng tranh tụng ngày càng được quan tâm thì vai trò chứng minh của đương sự trong toàn bộ quá trình giải quyết các vụ việc dân sự cần được quy định một cách chặt chẽ. Xuất phát từ những nguyên nhân trên, em đã lựa chọn đề tài của bài tiểu luận: “Thực trạng pháp luật về nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự qua thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh” từ đó có cái nhìn bao quát nhất về hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự, thấy được ý nghĩa mang tính quyết định kết quả một vụ việc khi nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự của đương sự được thực hiện một cách đầy đủ nhất và phát hiện những hạn chế, bất cập; sau đó tìm ra các giải pháp để thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự tốt nhất nhằm nâng cao nhận thức pháp lý của người dân khi tham gia tố tụng tại Tòa án và giảm gánh nặng cho Tòa án trong tình hình số lượng án dân sự tồn đọng càng ngày càng cao.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHĨA VỤ CHỨNG MINH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái quát về chứng minh
“Chứng minh” là làm cho thấy rõ là có thật, là đúng, thông qua việc viện dẫn các sự kiện, sự việc hay đưa ra các chứng cứ hoặc dùng những lý lẽ, lập luận logic để qua đó cho thấy một sự việc, quan điểm là đúng. Mục đích và nhiệm vụ của chứng minh chính là đem lại kết quả có lợi cho bên đương sự đưa ra yêu cầu, phản bác yêu cầu, do đó các chủ thể chứng minh phải chỉ ra được tất cả các căn cứ pháp luật và thực tiễn liên quan đến vụ việc dân sự đó.
Trong tố tụng dân sự, chứng minh cũng là một dạng hoạt động, nhưng không phải là hoạt động đời thường mà là hoạt động tố tụng, cụ thể là hoạt động sử dụng chứng cứ với mục đích tái hiện lại trước Tòa án vụ việc dân sự đã xảy ra trong quá khứ một cách chính xác và tỉ mỉ nhất có thể. Qua đó, Tòa án có thể khẳng định có hay không có các sự kiện, tình tiết khách quan, làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối của các bên đương sự trong vụ, việc dân sự.
1.2. Khái quát về hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự
Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một dạng của hoạt động chứng minh nói chung nhưng khác biệt ở chỗ hoạt động này là hoạt động mang tính chất pháp lý được điều chỉnh bởi Bộ luật tố tụng dân sự và pháp luật liên quan, được thực hiện bởi các chủ thể có quyền, nghĩa vụ cụ thể và kết quả của hoạt động này sẽ là một bản án, quyết định của Tòa án mang tính chất bắt buộc áp dụng. Nó là công cụ để Tòa án có thể nhận thức được chính xác sự việc đã xảy ra trên thực tế làm cơ sở để đưa ra phán quyết giải quyết các tranh chấp phát sinh một cách nhanh chóng, chính xác và khách quan. Còn đối với các đương sự thì chứng minh là phương tiện duy nhất để họ có thể bảo vệ được các quyền và lợi ích của mình. Khi vụ việc dân sự được Tòa án thụ lý và giải quyết cũng đồng nghĩa với việc bên nguyên đơn cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, bên bị đơn không thừa nhận các quyền và lợi ích đó của nguyên đơn nên yêu cầu Tòa án phân xử. Trong quá trình tố tụng có thể phát sinh nhiều chủ thể khác, khi họ đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu thì họ cũng có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của mình là đúng, là có thật. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc dân sự là chứng minh giả thuyết do các bên đưa ra. Cho dù giả thuyết đó có được công nhận là đúng, là có thật hay không thì toàn bộ quá trình đó vẫn được coi là hoạt động chứng minh..
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/phap-luat-ve-nghia-vu-chung-minh-cua-duong-su-trong-to-tung-dan-su/
[xyz-ihs snippet=”B0207″]
