THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 24 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0103.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC HƯỞNG VÀ CHỦ THỂ CỦA CHẾ ĐỊNH “THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG CỦA DI CHÚC” | 5 |
| 1.1. Khái niệm Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc | 5 |
| 1.1.1. Nguyên nhân hình thành chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc” | 5 |
| 1.1.2. Cơ sở pháp lý của chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc” | 5 |
| 1.1.3. Ý Nghĩa của chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc” | 7 |
| 1.2. Điều kiện để được hưởng chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc” | 7 |
| 1.2.1. Điều kiện chung | 7 |
| 1.2.2. Điều kiện đặc thù | 8 |
| 1.3. Chủ thể của chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc” | 8 |
| 1.3.1. Khái quát về diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc | 8 |
| 1.3.2. Con của người để lại di sản | 9 |
| 1.3.3. Vợ, chồng của người để lại di sản | 11 |
| 1.3.4. Cha, mẹ của người để lại di sản | 12 |
| Kết luận chương 1 | 12 |
| CHƯƠNG 2: QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỪA KẾ, PHẠM VI ÁP DỤNG VÀ CƠ CHẾ VẬN DỤNG CHẾ ĐỊNH “THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC” | 13 |
| 2.1. Quyền lợi của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc | 13 |
| 2.1.1. Các bước chia và việc xác định giá trị của một suất thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc | 13 |
| 2.1.2. Một số lưu ý về quyền lợi của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc | 14 |
| 2.2. Phạm vi áp dụng và cơ chế vận dụng chế định thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc | 16 |
| 2.2.1. Phạm vi áp dụng chế định thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc | 16 |
| 2.2.2. Cơ chế vận dụng chế định thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc | 17 |
| Kết luận chương 2 | 17 |
| KẾT LUẬN | 19 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 20 |
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Con người sinh ra, tồn tại, phát triển và chết đi theo quy luật tất yếu. Trong quá trình sống, con người đã tạo ra, tích lũy và phát triển khối tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Tài sản thuộc quyền sở hữu của họ sẽ không tồn tại mãi mãi vì khi chết đi tài sản đó có thể sẽ được người khác thừa kế thông qua di chúc của họ đã lập trước đó. Như tác giả đã nói ở trên, tài sản là do lúc sinh thời người quá cố đã tạo lập do đó họ có quyền định đoạt tài sản của mình. Từ xưa tới nay, hầu hết các văn bản quy định về thừa kế của Việt Nam đều khẳng định, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Trước khi chết, người có tài sản có quyền định đoạt tài sản của mình trong di chúc cho ai theo ý chí của họ[1]. Điều này càng khẳng định rằng, người để lại di sản có thể tự do định đoạt tài sản của mình một cách tuyệt đối. Bộ dân luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ “nói rõ rằng người lập chúc có thể sử dụng toàn thể tài sản của mình. Không có luật lệ nào bó buộc người quá cố phải để dành một phần di sản cho thừa kế của mình, dù thừa kế ấy là con cháu hay là cha mẹ ông bà, là những người thân thuộc gần gũi mà luân lý và luật pháp bắt người ấy phải cấp dưỡng hay phụng dưỡng. Tuc lệ Việt Nam không hề có ý niệm gì về lưu sản. Bộ Dân luật 1972 cũng không có dự liệu phần lưu sản”[2]. Việc định đoạt tài sản luôn gắn liền với yếu tố ý chí bởi vì việc lập di chúc mang lại lợi ích tinh thần cho người xác lập ra nó. Đồng thời, khi thực hiện quyền lập di chúc theo quy định của pháp luật, người lập di chúc được đảm bảo về niềm tin rằng, nội dung di chúc sẽ được thực hiện khi họ qua đời. Nhưng có một luồng ý tưởng khác cho rằng, quyền định đoạt tài sản của người để lại di sản là quyền tương đối, không hoàn toàn tự do định đoạt tài sản. Chế định “Pháp luật về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc” là một trong những giới hạn của quyền tự do định đoạt của người lập di chúc. Vậy câu hỏi được đặt ra liệu chế định này có trái với ý chí của người lập di chúc hay không? Hiện nay, pháp luật nước ta áp dụng theo chế định này nhằm đảm bảo cho cái lý và cả cái tình. Quyền tự do cá nhân không phải là tuyệt đối, cũng như thế, “quyền tự định đoạt của người để lại di chúc không thể mang tính tuyệt đối”[3]. Chế định pháp luật “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc” là để bảo vệ quyền lợi chính đáng của những người có phần sống phụ thuộc vào người lập di chúc khi họ không được cho hưởng di sản. Ngoài ra, việc dành phần di sản bắt buộc cho những người yếu thế trong gia đình là bổn phận luân lý và nhằm bảo vệ những giá trị về truyền thống, đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Ngày nay, chế định pháp luật “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc” đã được ghi nhận tại điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015. Từ những vai trò mà chế định này đem lại, chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của nó, tuy nhiên chế định vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế nhất định nên chúng ta cần phải nghiên cứu và hoàn thiện chế đinh này hơn. Đây cũng là lí do tác giả chọn đề tài “Pháp luật về Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”.
Tình hình nghiên cứu
Chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc” được đề cập đến trong tất cả các giáo trình về Luật Thừa kế và được giảng dạy trên các giảng đường Luật. Ngoài ra, vấn đề trên còn được đúc kết lại rất nhiều trong các tác phẩm và tài liệu nổi bật. Có thể đề cập đến một số các tài liệu như sau:
Đỗ Văn Đại (2016), Luật Thừa kế Việt Nam, Bản án và Bình luận Bản án, Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, thông qua tác phẩm, tác giả đã nêu bật lên những bình luận quan trọng về những người thừa kế và một số quyền lợi mà họ được hưởng theo chế định thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Bên cạnh đó, tác giả còn nêu ra cơ chế vận dụng, phạm vi áp dụng và những ý tưởng, vấn đề thắc mắc mà tác giả cho rằng cần xem xét, bổ sung.
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chính Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về tài sản, Quyền sở hữu và Thừa kế, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam đã khái quát những kiến thức cơ bản cho người đọc về khái niệm thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, các diện thừa kế, các điều kiện cơ bản để được hưởng chế định, các bước quan trọng để tiến hành phân chia di sản và việc xác định giá trị của một suất thừa kế theo chế định này.
Phan Thị Hồng, “Quyền hưởng di sản của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc qua thực tiễn xét xử tại Tòa án”, Tạp chí dân chủ và pháp luật. Bài viết đã cung cấp cho người đọc những quyền hưởng di sản của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, quyền thừa kế theo chế định trên nhìn từ thực tiễn xét xử tại tòa án. Trong đó, bài viết cũng đã đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc”. Cùng với việc nghiên cứu các quy phạm pháp luật, trong bài tiểu luận cũng đề cập và phân tích khái niệm, điều kiện xảy ra, những người thừa kế và các quyền lợi được hưởng theo chế định này cũng như phạm vi áp dụng và cơ chế vận dụng của chế định. Ngoài ra, khi phân tích các quy định cụ thể bài viết cũng đề cập đến một số bất cập và kiến nghị mang tính hoàn thiện cho chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc”.
Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các quy phạm pháp luật Việt Nam về Thừa kế, qua các giai đoạn phát triển của lịch sử đến nay.
Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp tổng hợp và xử lý tài liệu, phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp logic, phương pháp lịch sử.
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài tiểu luận gồm có 2 chương:
Chương 1: Khái niệm, điều kiện để được hưởng và chủ thể của chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”.
Chương 2: Quyền lợi của người thừa kế, phạm vi áp dụng và cơ chế vận dụng chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”.
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC HƯỞNG VÀ CHỦ THỂ CỦA CHẾ ĐỊNH “THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG CỦA DI CHÚC”
1.1. Khái niệm Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
1.1.1. Nguyên nhân hình thành chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc”
Pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân với tư cách là chủ sở hữu đối với tài sản của họ. Quyền định đoạt của cá nhân trong lập di chúc là sự biểu hiện của tự do ý chí, tuy nhiên dù tự do ý chí là cái cá biệt, cái đơn nhất của cá nhân nhưng cái cá biệt không thể tồn tại ngoài mối liên hệ dẫn đến cái chung. Pháp luật bất kì quốc gia nào có chủ quyền được ban hành đều nhằm đến mục đích điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nhất định và theo những nguyên tắc đảm bảo sự bình ổn về mặt xã hội. Cũng theo phương thức và nguyên tắc chung đó, pháp luật về thừa kế Việt Nam cho phép cá nhân người lập di chúc có quyền định đoạt trong việc lập di chúc nhưng không tách rời các quan hệ xã hội, không hoàn toàn tự do trong việc định đoạt và một trong những giới hạn của tự do định đoạt này chính là chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”.
1.1.2. Cơ sở pháp lý của chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc”
Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là chế định can thiệp vào nội dung của di chúc, trong trường hợp những người thân thích của người lập di chúc không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu chia di sản theo pháp luật thì họ vẫn được hưởng di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.
Theo Điều 644, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”
Thực ra phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc đã được quy định trong Thông tư số 81 ngày 24/07/1981 của Tòa án nhân dân tối cao.[4] Theo thông tư này, những người “thừa kế bắt buộc” bao gồm vợ, chồng; con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, bố mẹ già yếu và túng thiếu. Phần này được ấn định bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật. Kế thừa các quy định tại Thông tư 81, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 bổ sung: 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật được tính bằng cách giả định toàn bộ di sản được chia theo pháp luật (Điều 20). Pháp lệnh cũng đã thay cụm từ “ phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc” thành “những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc”[5]. Sau Pháp lệnh Thừa kế, Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005 tiếp tục quy định về vấn đề này.[6] Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là trường hợp đặc biệt của thừa kế theo pháp luật, chứ không phải là một loại thừa kế theo di chúc bởi vì căn cứ làm phát sinh quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là quy định của pháp luật.[7] Thêm vào đó, phần di sản cho người thừa kế theo chế định trên hoàn toàn ngoài ý chí của người lập di chúc. Người lập di chúc đã không chỉ định cho những người này được hưởng di sản trong di chúc của mình.
1.1.3. Ý Nghĩa của chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc”
Mục đích của chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc” nhằm bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ, vợ, chồng, con của người để lại di sản trước những quyết định bất lợi đối với họ. Đây đều là những người có mối quan hệ thân thiết gần gũi nhất với người để lại di sản. Cả phương diện pháp lý cũng như đạo lý đều quy định rằng, việc chăm sóc, nuôi dưỡng những người này là bổn phận của người để lại di sản. Bổn phận ấy không chỉ được thực hiện khi người để lại di sản còn sống, mà ngay cả khi họ chết đi thì bổn phận ấy sẽ vẫn tiếp tục được thực hiện bằng việc người để lại di sản để lại một phần tài sản của mình cho cha, mẹ, vợ, chồng, con cái của họ. Nếu những người này, vì một lý do nào đó, mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ bổn phận của mình thì pháp luật bằng những quy định của mình sẽ ấn định cho những người có quan hệ gần gũi với người này luôn được hưởng một phần di sản từ khối di sản của người đó để lại. Đó chính là phần di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Mặc khác, đây cũng là chế định mang tính nhân văn sâu sắc, giữ được những truyền thống, đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta.
1.2. Điều kiện để được hưởng chế định “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc”
1.2.1. Điều kiện chung
Cũng như những người thừa kế hợp pháp khác của người để lại di sản, người thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc cũng phải tuân thủ các yêu cầu của một người thừa kế….
[1] Bùi Tường Chiểu: Dân luật (Năm thứ tư – cử nhân luật), Sài Gòn 1974- 1975, tr.63).
[2] Nguyễn Văn Thành: Dân luật, Sđd, tr.93 và 94.
[3] Kiều Khanh, “Quyền tự định đoạt của người lập di chúc”, Tạp chí Luật học, (từ tr.57-59) trong số Chuyên đề về Bộ luật Dân sự, 1996, tr.57.
[4] “Người lập di chúc phải dành lại một phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc (nếu có). Những người thừa kế bắt buộc gồm: Vợ góa hoặc chồng góa, con chưa thành niên hoặc tuy đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, bó mẹ già yếu và túng thiếu. Phần di sản phải dành lại cho mỗi người thừa kế bắt buộc, ít nhất là 2/3 suất của thừa kế theo luật. Nếu di chúc truất quyền thừa kế của người thừa kế bắt buộc hoặc phần dành lại cho mỗi người thừa kế bắt buộc ít hơn 2/3 suất thì phải trích chia cho đủ 2/3. Sau khi đã trích chia cho những người thừa kế bắt buộc, Tòa án vẫn chiếu theo di chúc để phân chia số di sản còn lại cho những người được chỉ định trong di chúc, theo tỷ lệ phân quyền của họ”.
[5] “Trong trường hợp không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu như di sản được chia theo pháp luật, thì những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng ít nhất là hai phần ba suất đó, trừ trường hợp họ là người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Pháp lệnh này:
a) Cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên không đủ khả năng lao động và túng thiếu;
b) Con chưa thành niên”.
[6] Về chủ đề này, xem Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 1995 và Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005.
[7] Về chủ đề này, xem Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chính Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về tài sản, Quyền sở hữu và Thừa kế, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, tr.512.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/phap-luat-ve-thua-ke-khong-phu-thuoc-noi-dung-cua-di-chuc/
[xyz-ihs snippet=”B0103″]
