![[Tiểu luận 2021] Pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đông nhân dân, qua thực tiễn bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân nhiệm kì 2021-2026 tại tỉnh Gia Lai [Tiểu luận 2021] Pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đông nhân dân, qua thực tiễn bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân nhiệm kì 2021-2026 tại tỉnh Gia Lai](https://cdn.tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/B0194-phap-luat-ve-ve-bau-cu-dai-bieu-hoi-dong-nhan-dan-thuc-tien-gia-lai-1.jpg)
THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật – Đại học Huế
- Định dạng: WORD
- Số trang: 20 trang (cả bìa)
- Năm: 2021 / Mã số: B0194.
- Pháp luật áp dụng: Hiến pháp năm 2013.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN | 2 |
| 1.1. Khái niệm của pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân | 2 |
| 1.2. Những quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân | 2 |
| 1.2.1. Nguyên tắc bầu cử | 2 |
| 1.2.2. Tuổi bầu cử và tuổi ứng cử | 3 |
| 1.2.3. Tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân | 4 |
| 1.2.4. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân | 4 |
| 1.2.5. Ngày bầu cử và thời gian bỏ phiếu | 5 |
| 1.2.6. Danh sách cử tri | 6 |
| 1.2.7. Hồ sơ ứng cử | 6 |
| 1.2.8. Niêm yết danh sách người ứng cử | 6 |
| 1.2.9. Khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử | 7 |
| 1.2.10. Tuyên truyền, vận động bầu cử | 7 |
| 1.2.11. Kết quả bầu cử | 7 |
| 1.2.12. Xử lý vi phạm pháp luật về bầu cử | 7 |
| 1.2.13. Kinh phí tổ chức bầu cử | 8 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN | 9 |
| 2.1. Thực trạng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kì 2021-2026 tại tỉnh Gia Lai | 9 |
| 2.1.1. Những kết quả đạt được | 9 |
| 2.1.2. Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế | 11 |
| 2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân | 12 |
| 2.2.1. Thực tế thực hiện pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân | 12 |
| 2.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân | 13 |
| KẾT LUẬN | 15 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 16 |
LỜI MỞ ĐẦU
Với bản chất là một nhà nước có chế độ chính trị dân chủ, Nhà nước ta đã sử dụng một hệ thống các phương pháp và biện pháp dân chủ rộng rãi để tổ chức và thực hiện quyền lực của Nhà nước. Điều 6, Hiến pháp 2013 đã khẳng định “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Đất nước ta đã trải qua 75 năm độc lập, 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đạt được nhiều thành tựu quan trọng và góp phần vào những thành tựu đó không thể không kể đến sự thành công trong công cuộc bầu cử của đất nước.
Theo tôn chỉ “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”[1] để đưa chính quyền về với Nhân dân Đảng và nhà nước đã tập trung đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương theo từng nhiệm kỳ thông qua cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhằm bầu ra các đại biểu đại diện cho nhân dân địa phương tại Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Đánh giá nhiều cuộc bầu cử của đất nước đã diễn ra thành công tốt đẹp, bảo đảm dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm, phát huy tinh thần dân chủ, công khai, minh bạch trong từng bước triển khai thực hiện bản thân tôi nhận thấy pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đóng vai trò rất quan trọng.
Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước vừa trải qua cuộc bầu cử lớn vào ngày 23/05/2021 nhiệm kì 2021-2026 thì thực tiễn cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai cũng khá được quan tâm. Để hiểu sâu hơn về những vẫn đề trên, bản thân tôi đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đông nhân dân, qua thực tiễn bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân nhiệm kì 2021-2026 tại tỉnh Gia Lai” làm bài tiểu luận kết thúc học phần luật Hiến pháp.
CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm của pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
Bầu cử là việc lựa chọn người đảm nhiệm các chức vụ trong cơ quan nhà nước thông qua sự biểu hiện ý chí của nhân dân theo các quy định của pháp luật nhất định[2].
Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của người dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước Hội đồng nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình.
Pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân là những quy định tiêu chuẩn, điều kiện, cách thức, trình tự, thủ tục của việc ứng cử, bầu cử đại biểu đại diện cho cử tri tham gia vào cơ quan quyền lực nhà nước ở đại phương của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1.2. Những quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
1.2.1. Nguyên tắc bầu cử
Việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Theo chiều hướng của sự phát triển ngày càng mở rộng dân chủ, thì các hình thức biểu hiện của các nguyên tắc bầu cử ngày càng đa dạng, càng phong phú, càng góp phần đảm bảo tính dân chủ của các cuộc bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử phổ thông: là sự bảo đảm trực tiếp cho tính dân chủ và tính chính thống của cuộc bầu cử. Nguyên tắc này đòi hỏi phải bảo đảm để cuộc bầu cử trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử bình đẳng: là nguyên tắc nhằm để bảo đảm cho mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Cử tri tham gia bầu cử có cơ hội tham gia bầu cử như nhau, có quyền và nghĩa vụ như nhau. Kết quả bầu chỉ phụ thuộc vào số phiếu bầu. Ngoài ra, nguyên tắc này còn đòi hỏi sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để đại diện cho các vùng, miền, địa phương, tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số.
Nguyên tắc bầu cử trực tiếp: là nguyên tắc thể hiện tính rõ nét nhất tính dân chủ trong quá trình hình thành ra bộ máy nhà nước, cho phép người đại diện được Nhân dân trực tiếp bầu ra nhận quyền lực nhà nước từ Nhân dân.
Nguyên tắc bỏ phiếu kín: Đảm bảo cho cử tri tự do biểu lộ ý chí của mình trong việc lựa chọn đại biểu, tránh mọi sự áp đặt lên ý chí của cử tri, loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài sự thể hiện ý chí của cử tri.
1.2.2. Tuổi bầu cử và tuổi ứng cử
Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân là một hình thức để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tuy nhiên chỉ những người đủ điều kiện về độ tuổi mới được tham gia bầu cử. Tính đến ngày bầu cử, công dân nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.
Nhưng không phải mọi công dân đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà còn có những trường hợp không được tham gia bầu cử: Thứ nhất, người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Thứ hai, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án; Thứ ba, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo; Thứ tư, người mất năng lực hành vi dân sự. Trường hợp người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Và không phải mọi công dân đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà còn có những trường hợp khác được pháp luật quy định không có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân: Thứ nhất, người đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang chấp hành phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; Thứ hai, người đang bị khởi tố bị can; Thứ ba, người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án; Thứ tư, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Thứ năm, người chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nhưng chưa được xóa án tích.
1.2.3. Tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân
Điều quan trọng nhất của một người lãnh đạo là trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và phải có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật, tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật khác, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hồ Chủ tịch đã từng dạy: “ Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”, bởi thế, đã là đại biểu Hội đồng nhân dân thì cần phải có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ, có khả năng tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật; am hiểu tình hình kinh tế – xã hội để tham gia quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương. Đồng thời, đã là người đại diện cho ý chí của nhân dân thì cần phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm. Đó chính là những điều kiện tiên quyết để trở thành đại biểu Hội đồng nhân dân.
1.2.4. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
Cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân đóng vai trò rất quan trọng cho nên các cơ quan, tổ chức trong công tác bầu cử được quy định những trách nhiệm cụ thể để tránh những sai sót không đáng có:
Thứ nhất, Quốc hội quyết định ngày bầu cử toàn quốc đối với cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; quyết định, thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia.
Thứ hai, Hội đồng bầu cử quốc gia chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Thứ ba, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ, thành phần, phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tổ chức giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, bảo đảm cuộc bầu cử tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm.
Thứ tư, Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện công tác bầu cử theo quy định của pháp luật; tổ chức các biện pháp bảo đảm kinh phí, hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí tổ chức bầu cử, đảm bảo công tác thông tin, tuyên truyền, an ninh, an toàn và các điều kiện khác phục vụ cho cuộc bầu cử.
Cuối cùng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
1.2.5. Ngày bầu cử và thời gian bỏ phiếu
Ngày bầu cử và thời gian bỏ phiếu được quy định chặt chẽ theo pháp luật để đảm bảo cử tri có thể tham gia bầu cử đầy đủ và kịp thời: Theo quy định của luật bầu cử đại biểu Quốc Hội và Hội đồng nhân dân thì ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày bầu cử và thời gian bỏ phiếu cũng được quy định cụ thể:
Thứ nhất, việc bỏ phiếu bắt đầu từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước năm giờ sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá chín giờ tối cùng ngày.
Thứ hai, trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri.
Thứ ba, việc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Trong trường hợp có sự kiện bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để việc bỏ phiếu được tiếp tục.
1.2.6. Danh sách cử tri
Công dân Việt Nam có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật sẽ được ghi tên ghi tên vào danh sách cử tri. Danh sách cử tri được lập theo nguyên tắc lập danh sách cử tri được quy định tại Điều 29 trong thẩm quyền lập danh sách cử tri được quy định tại Điều 31 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.
Niêm yết danh sách cử tri: Chậm nhất là 40 ngày trước ngày bầu cử, cơ quan lập danh sách cử tri niêm yết danh sách cử tri tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã và tại những địa điểm công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi danh sách cử tri và việc niêm yết để Nhân dân kiểm tra.
1.2.7. Hồ sơ ứng cử
Công dân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật có thể ứng cử đại biểu Hội đồng Nhân dân phải nộp hồ sơ ứng cử chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử. Hồ sơ ứng cử bao gồm: đơn ứng cử; sơ yếu lý lịch có chứng nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền; tiểu sử tóm tắt; ba ảnh chân dung màu cỡ 4cm x 6cm; bản kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
1.2.8. Niêm yết danh sách người ứng cử
Niêm yết danh sách người ứng cử cũng là một khâu quan trọng trong cuộc bầu cử để nhân dân có thể bầu ra những đại biểu ưu tú cống hiến cho đất nước: Chậm nhất là 20 ngày trước ngày bầu cử, Tổ bầu cử phải niêm yết danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở khu vực bỏ phiếu.
1.2.9. Khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử
Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện trong bầu cử cũng vậy: Công dân có quyền tố cáo về người ứng cử, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân[3].
Trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia, Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử ngừng xem xét, giải quyết mọi khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử và việc lập danh sách những người ứng cử. Không xem xét, giải quyết đối với những đơn tố cáo không có họ, tên người tố cáo hoặc mạo danh người khác để tố cáo. Các cơ quan thẩm quyền trong ban bầu cử xem xét, giải quyết hồ sơ khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền.
1.2.10. Tuyên truyền, vận động bầu cử
Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong việc chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, vận động bầu cử để nhân dân được biết và thực hiện quyền công dân của mình theo những quy định tại Điều 62, 63, 64 65, 66, 67, 68 của Luật bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015…
[1] Điều 2 Hiến pháp năm 2013.
[2] Đại học Luật – Đại học Huế (2016), Giáo trình Luật Hiến pháp 2, NXB. Đại học Huế, trang 135.
[3] Điều 58 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015..
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/phap-luat-ve-ve-bau-cu-dai-bieu-hoi-dong-nhan-dan-thuc-tien-gia-lai/
[xyz-ihs snippet=”B0194″]
