THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 29 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0008.
- Pháp luật áp dụng: Luật Chứng khoán năm 2019, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Bộ luật Dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ VỐN, TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP | 2 |
| 1.1. Khái quát về vốn và tài sản trong doanh nghiệp | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm về vốn và tài sản trong doanh nghiệp | 2 |
| 1.1.2. Đặc điểm | 3 |
| 1.1.3. Phân loại | 4 |
| 1.1.4. Cấu trúc vốn | 6 |
| 1.1.5. Vai trò | 8 |
| 1.2. Khái quát chung quy định pháp luật về vốn và tài sản trong doanh nghiệp | 9 |
| 1.2.1. Quy định pháp luật về vốn doanh nghiệp | 9 |
| 1.2.2. Hoạt động huy động vốn của doanh doanh nghiệp | 10 |
| 1.2.3. Quy định về tài sản của doanh nghiệp | 13 |
| 1.2.4. Quản lý tài sản doanh nghiệp | 14 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ VỐN VÀ TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP | 16 |
| 2.1. Đánh giá thực trạng pháp luật về huy động vốn | 16 |
| 2.1.1. Ưu điểm | 16 |
| 2.1.2. Bất cập | 17 |
| 2.2. Thực trạng sử dụng, quản lý tài sản trong doanh nghiệp | 21 |
| 2.2.1. Ưu điểm | 21 |
| 2.2.2. Bất cập | 21 |
| CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ VỐN VÀ TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP | 23 |
| KẾT LUẬN | 25 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 26 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp thuộc bất cứ ngành nghề lĩnh vực nào cũng đều quan tâm và hết sức chú trọng về vốn và tài sản của doanh nghiệp. Đây là một yếu tố quan trọng, là điều kiện thiết yếu để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tùy theo sự phát triển của thị trường tài chính ở một số quốc gia, cũng như cách thức kinh doanh của loại hình doanh nghiệp và các quy mô đặc điểm kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp có cách thức, phương thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau. Luật Doanh nghiệp 2020 và các luật khác đều có quy định việc gốp vốn và tài sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn một số bất cập đối với sự phát trển của thị trường hiện nay. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, nhóm chúng em chọn đề tài “Pháp luật về vốn và tài sản của doanh nghiệp” để làm đề tài thảo luận nhóm của mình.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ VỐN, TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về vốn và tài sản trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về vốn và tài sản trong doanh nghiệp
Rất nhiều định nghĩa về vốn đã được hình thành xuyên suốt lịch sử. Theo nhà triết học K. Marx thì vốn là tư bản mà tư bản được hiểu là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Theo cuốn Từ điển Longman rút gọn về tiếng Anh kinh doanh, vốn được định nghĩa như sau:
“Vốn là tài sản tích luỹ được sử dụng vào sản xuất nhằm tạo ra lợi ích lớn hơn; đó là một trong các yếu tố của quá trình sản xuất bên cạnh đất đai và lao động”.
Tóm gọn lại, vốn có thể được hiểu đơn giản là toàn bộ giá trị của cải vật chất được đầu tư để tiến hành hoạt động kinh doanh hay còn được gọi là vốn doanh nghiệp. Vốn có thể là toàn bộ vật chất do con người tạo ra hay là những nguồn của cải tự nhiên như đất đai, khoáng sản… Trong nền kinh tế thị trường bên cạnh vốn tồn tại dưới dạng vật chất còn có các loại vốn dưới dạng tài sản vô hình nhưng có giá trị như bằng phát minh, sáng chế, nhãn hiệu, lợi thế thương mại… Với một quan niệm rộng hơn người ta cũng có thể coi lao động là vốn.
Tài sản là một khái niệm động mang nội dung kinh tế, xã hội và nội dung pháp lý nhằm mục đích đáp ứng cho các nhu cầu của con người trong cuộc sống. Tài sản được giải nghĩa là một từ được sử dụng chung để chỉ mọi thứ là đối tượng của quyền sở hữu, hoặc hữu hình hoặc vô hình, hoặc động sản hoặc bất động sản. Tài sản là biểu hiện trạng thái cụ thể của vốn, là cái đang có, đang tồn tại ở doanh nghiệp[1].
Như vậy, vốn và tài sản trong doanh nghiệp là là những của cải vật chất hữu hình và vô hình để phục vụ hoạt động kinh doanh sản xuất nhằm tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm
Đầu tiên, vốn là đại diện cho một lượng giá trị tài sản, có nghĩa vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình như: nhà xưởng, đất đai, máy móc, thiết bị, chất xám, thông tin,… Một lượng tiền phát hành động thoát lý giá trị thực của hàng hoá để đưa vào đầu tư, những khoản nợ không có khả năng thanh toán thì không được coi là vốn.
Thứ hai, vốn luôn vận động để sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được đưa vào hoạt động kinh doanh nhằm kiếm lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, những điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị- là tiền. Đồng vốn phải quay về xuất phát với giá trị lớn hơn- đó là nguyên lý đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn. Do vậy khi đồng vốn bị ứ đọng, tài sản cố định không được sử dụng, tài nguyên, sức lao động không được dùng đến và nảy sinh các khoản nợ khó đòi… là đồng vốn “chết”. Mặt khác, tiền có vận động nhưng bị phân tán quay về nơi xuất phát với giá trị thấp hơn thì đồng vốn cũng không được đảm bảo, chu kỳ vận động tiếp theo sẽ bị ảnh hưởng.
Thứ ba, vốn không tách rời chủ sở hữu trong quá trình vận động, mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định. Nếu đồng vốn không rõ ràng về chủ sở hữu sẽ có chi phí chồng phí, không hiệu quả. Trong nền kinh tế thị trường, chỉ có xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới được sử dụng hợp lý và có hiệu quả cao. Cần phải phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, đó là hai quyền khác nhau. Tuy nhiên, tùy theo hình thức đầu tư mà người có quyền sở hữu và quyền sử dụng là đồng nhất hoặc riêng rẽ. Và dù trong trường hợp nào, người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn trong quyền sở hữu của mình. Đây là một nguyên tắc để huy động và quản lý vốn.
Thứ tư, phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn, điều này có nghĩa là vốn có giá trị về mặt thời gian. Trong điều kiện cơ chế thị trường, phải xem xét yếu tố thời gian vì ảnh hưởng sự biến động của giá cả, lạm phát nên giá trị của đồng tiền ở mỗi thời kỳ là khác nhau.
Thứ năm, vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng. Doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của mình mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn từ bên ngoài như phát hành cổ phiếu, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác. Nhờ vậy vốn của doanh nghiệp sẽ tăng lên và được gom thành món lớn.
Thứ sáu, vốn không chỉ được biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài sản vô hình như nhãn hiệu, bản quyền, phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ, vị trí địa lý kinh doanh… Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự tiến bộ của khoa học công nghệ thì những tài sản vô hình ngày càng phong phú và đa dạng, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Do vậy, tất cả các tài sản này phải được lượng hoá để quy về giá trị. Việc xác định chính xác giá trị của các tài sản nói chung và các tài sản vô hình nói riêng là rất cần thiết khi góp vốn đầu tư liên doanh, khi đánh giá doanh nghiệp, khi xác định giá trị để phát hành cổ phiếu.
1.1.3. Phân loại
Có rất nhiều cách để tiếp cận và phân loại vốn doanh nghiệp, tùy thuộc vào các tiêu chí để phân loại vốn doanh nghiệp thành các loại như sau:
Thứ nhất, phân loại vốn dựa theo quan hệ sở hữu: gồm vốn chủ sở hữu và vốn nợ phải trả:
– Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt. Vốn chủ sở hữu bao gồm cả vốn điều lệ bởi tổng số vốn thuộc về cổ đông được cấu thành từ vốn cổ phần (vốn điều lệ), khoản lợi nhuận chưa phân phối và các nguồn thu khác.
Vốn chủ sở hữu thường xuất hiện trong các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dưới các dạng như vốn cổ đông (hay vốn đầu tư ban đầu), thặng dư vốn cổ đông (khoảng chênh lệch giữa mệnh giá cổ phiếu và giá thực tế phát hành), lãi chưa qua phân phối, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính hoặc các quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu,…
– Vốn nợ phải trả: là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải thanh toán tại một thời điểm nào đó cho các chủ sở hữu khác. Hình thành do doanh nghiệp phát hành trái phiếu, nợ khách hàng, cán bộ nhân viên.
Thứ hai, phân loại dựa theo chức năng kinh tế: gồm vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tư chính:
– Vốn cố định: là tổng số tiền đầu tư xây dựng hoặc lắp đặt tài sản cố định hữu hình hoặc tài sản cố định vô hình để phục vụ cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó các loại tài sản được xếp vào loại vốn cố định phải đáp ứng đủ hai tiêu chí: Về thời gian sử dụng tài sản phải thường xuyên và tối thiểu từ 1 năm trở lên và giá trị tài sản phải đạt tối thiểu ở một mức nhất định do Nhà nước quy định theo từng thời kỳ.
+ Tài sản cố định hữu hình: máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải,….
+ Tài sản cố định vô hình: quyền sử dụng đất, chí phí bằng phát mình sáng chế, quyền đặc nhượng, nhãn hiệu, thương hiệu,…
– Vốn lưu động: là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động trong doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kì kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông.
– Vốn đầu tư chính: là toàn bộ chi phí mà một nhà đầu tư sẽ bỏ ra để tiến hành thực hiện các hoạt động đầu tư được lên kế hoạch từ trước, được hình thành từ hai nguồn tài chính chủ yếu là nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài.
Thứ ba, phân loại theo phạm vi huy động: huy động vốn từ bên trong và huy động vốn từ bên ngoài:
– Huy động vốn từ bên trong: huy động từ số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp từ quỹ khấu hao và từ lợi nhuận để tái đầu tư
– Huy động vốn từ bên ngoài: từ hoạt động liên doanh liên kết. Việc góp vốn liên kết có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tùy theo từng loại hình của doanh nghiệp
Thứ tư, phân loại theo thời gian huy động vốn: nguồn vốn tạm thời và nguồn vốn thường xuyên vốn dài hạn và vốn ngắn hạn):
– Nguồn vốn tạm thời (vốn ngắn hạn): trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từng thời kì có các nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì hình thành nên nguồn vốn có tính chất tạm thời như các khoản nợ ngắn hạn, phần vốn chiếm dụng của người bán.
– Nguồn vốn thường xuyên (vốn dài hạn): Tương ứng với mỗi một quy mô nhất định đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn thường xuyên cần thiết để đảm bảo cho quá trình kinh doanh diễn ra một cách liên tục. Nguồn vốn này có thể huy động từ nguồn vốn chủ sở hữu, phát hành trái phiếu dài hạn hoặc có thể vay dài hạn từ các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng.
1.1.4. Cấu trúc vốn[2]
1.1.4.1. Thành phần cấu trúc vốn
- Nguồn vốn vay:
Trong nền kinh tế thị trường, hầu như không một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ bằng nguồn vốn tự có mà đều phải hoạt động bằng nhiều nguồn vốn, trong đó nguồn vốn vay sử dụng đáng kể.
Nguồn vốn vay là nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp và doanh nghiệp phải thanh toán các khoản vay theo thời hạn cam kết và đồng thời phải trả tiền lãi vay theo lãi suất thỏa thuận. Nguồn vốn vay mang một ý nghĩa rất quan trọng đối với việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Trong cấu trúc vốn ta chỉ xét đến nguồn vốn vay ngắn hạn và dài hạn.
– Vay ngắn hạn: Thời gian đáo hạn ngắn hơn một năm. Lãi suất của nguồn vốn vay ngắn hạn thường thấp hơn tín dụng dài hạn, thường được bổ sung vốn lưu động
– Vay dài hạn: Thời gian đáo hạn dài hơn một năm. Lãi suất vay dài hạn thường cao hơn so với lãi suất vay ngắn hạn, thường được dùng để bổ sung cho vốn xây dựng cơ bản hay mua sắm tài sản cố định.
Nguồn vốn vay này có thể được huy động từ các tổ chức tài chính, ngân hàng hay việc phát hành trái phiếu. Việc doanh nghiệp sử dụng loại nguồn vốn vay này nhiều hay ít thì còn tùy thuộc vào đặc điểm của loại hình doanh nghiệp và doanh nghiệp đang ở trong chu kỳ sản xuất kinh doanh
- Nguồn vốn chủ sở hữu
Nói đến nguồn vốn chủ sở hữu là nói đến nguồn vốn đầu tiên mà doanh nghiệp huy động được. Bởi vì, đối với một doanh nghiệp trước khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có vốn điều lệ.
Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trong tổng tài sản nợ phản ánh tình hình tự chủ về tài chính của doanh nghiệp.
Một nguồn lực quan trọng trong việc đánh giá cấu trúc vốn là bảng cân đối kế toán của công ty dựa trên quy định của Mẫu bảng cân đối kế toán theo Thông tư 200, hay còn gọi là mẫu B01-DN l để phân loại tài sản và nợ phải trả của công ty bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ.
1.1.4.2. Nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn
Cấu trúc vốn khá phức tạp và bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố. Mỗi lĩnh vực kinh doanh thì nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn là khác nhau nhưng nhìn chung, thì có 3 nhân tố chính ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp:
– Tính thanh khoản: Là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực tài chính. Nói đơn giản, tính thanh khoản có nghĩa là khả năng chuyển đổi thành tiền mặt của một tài sản hoặc một sản phẩm.
– Lợi tức đầu tư: Theo lý thuyết cân bằng, lợi tức đầu tư và đòn bẩy tài chính có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau. Doanh nghiệp đầu tư càng nhiều, thuận lợi trong quá trình hợp tác với các tổ chức tài chính thì rủi ro phá sản sẽ thấp. Lợi tức đầu tư trong cấu trúc vốn cũng đóng vai trò khá quan trọng, là căn cứ để đánh giá xem doanh nghiệp đó có đang rơi vào khủng hoảng tài chính hay không.
– Tỷ lệ lãi suất: Cấu trúc vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn bởi tỷ lệ lãi suất. Khi doanh nghiệp vay vốn của tổ chức cho vay thì lãi suất là vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm hàng đầu vì nếu lãi suất tăng và vấn đề vay nợ gặp khó khăn thì doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng.
1.1.5. Vai trò
Trên các góc độ khác nhau vai trò của vốn cũng khác nhau.
Về mặt pháp lý: Khi muốn thành lập một doanh nghiệp, điều kiện đầu tiên là doanh nghiệp cần có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đạt mức tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định (khoản vốn do Nhà nước quy định cho từng loại hình doanh nghiệp), khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu vốn của doanh nghiệp không đạt những điều kiện mà pháp luật quy định doanh nghiệp có thể bị tuyên bố phá sản, giải thể, … Như vậy, vốn doanh nghiệp có thể được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại, tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật
[1] Phân biệt tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. https://accgroup.vn/tai-san-va-nguon-von#:~:text=T%C3%A0i%20s%E1%BA%A3n%20v%C3%A0%20ngu%E1%BB%93n%20v%E1%BB%91n%20ch%E1%BB%89%20l%C3%A0%202%20m%E1%BA%B7t%20kh%C3%A1c,ho%E1%BA%B7c%20m%E1%BB%99t%20s%E1%BB%91%20ngu%E1%BB%93n%20v%E1%BB%91n. Truy cập ngày 21/01/2024.
[2] Xem: https://www.webketoan.vn/cau-truc-von-la-gi-thanh-phan-va-cac-nhan-to-anh-huong.html. Truy cập ngày 13/02/2024.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0008″]
