THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật – Đại học Huế
- Định dạng: WORD
- Số trang: 20 trang (cả bìa)
- Năm: 2023 / Mã số: B0218-2.
- Từ khóa: Giải quyết tranh chấp/ Thương lượng/ Tranh chấp kinh doanh/ Tranh chấp thương mại
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Lý do chọn đề tài | 1 |
| 2. Mục tiêu và nhiệm vụ | 2 |
| 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu | 2 |
| 4. Phương pháp nghiên cứu | 2 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP THƯƠNG LƯỢNG ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI | 3 |
| 1.1. Khái quát chung về tranh chấp thương mại | 3 |
| 1.1.1. Khái niệm | 3 |
| 1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp thương mại | 4 |
| 1.2. Lý luận về thương lượng để giải quyết tranh chấp thương mại | 5 |
| 1.2.1. Khái niệm về thương lượng trong tranh chấp thương mại | 5 |
| 1.2.2. Đặc điểm của thương lượng trong tranh chấp thương mại | 6 |
| CHƯƠNG 2: NGUYÊN TẮC VÀ HÌNH THỨC CỦA VẤN ĐỀ THƯƠNG LƯỢNG ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI | 10 |
| 2.1. Nguyên tắc thương lượng giải quyết tranh chấp thương mại | 10 |
| 2.2. Hình thức thương lượng giải quyết tranh chấp thương mại | 13 |
| 2.2.1 Phân loại hình thức thương lượng | 13 |
| 2.2.2 Kết quả của thương lượng thương mại | 14 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHI HOÀN THIỆN CƠ CHẾ THƯƠNG LƯỢNG ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI | 16 |
| 3.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường thương lượng | 16 |
| 3.2. Kiến nghị góp phần vào cơ chế thương lượng để giải quyết tranh chấp | 17 |
| KẾT LUẬN | 19 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 20 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt quá trình chuyển mình từ một nền kinh tế lạc hậu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã vươn lên thành một điểm sáng tăng trưởng trong khu vực và trên thế giới với nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Nền kinh tế không chỉ tăng trưởng về quy mô mà chất lượng tăng trưởng cũng được cải thiện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể. Đi kèm theo sự phát triển kinh tế thì những vấn đề tranh chấp xảy ra là câu chuyện không thể tránh khỏi mà còn ngày trở nên càng phức tạp. Các chủ thể thương mại thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có thể thoả thuận cơ chế giải quyết các tranh chấp một cách thỏa đáng và hiệu quả sẽ thúc đẩy thu hút đầu tư, giữ vững trật tự – ổn định xã hội. Mặc dù có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp nhưng thương lượng là cách giải quyết phổ biến trong đời sống xã hội nói chung, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại nói riêng.
Thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại với những ưu việc của nó, nhưng trong các văn bản pháp luật thì thương lượng chỉ dừng lại ở việc quy định đó là một phương thức giải quyết tranh chấp cho nên việc áp dụng trong thực tiễn còn hạn chế, phương thức này chưa bộc lộ hết ưu điểm vốn có của nó, đặc biệt là vấn đề thực thi khi thương lượng giữa các bên được hoàn thành đang bị bỏ ngỏ, không có một cơ quan nào công nhận kết quả thương lượng này và việc thi hành nội dung đã thương lượng thành khi một bên vi phạm thì không có chế tài. Vì thế, phương thức giải quyết tranh chấp thương mại không những không phát huy được những điểm ưu việt của nó mà đôi khi nó còn trở thành vướng mắc trong quá trình giải quyết gây hại, kéo dài thời gian cho các bên trong quan hệ tranh chấp, đặc biệt là thiệt hại cho những nhà kinh doanh. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: “Những vấn đề pháp lý về phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng thương lượng ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận kết thúc muôn học.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ
Mục tiêu là tìm ra các căn cứ pháp luật được quy định trong luật hiện hành, căn cứ khoa học và thực tiễn của việc dùng biện pháp thương lượng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.
Nhiệm vụ làm sáng tỏ được thế nào là thương lượng trong giải quết tranh chấp thương mại, các quy định của pháp luật và tìm ra những bất cập dựa vào thực tiễn để đưa ra các khuyến nghị hoàn thiện pháp luật.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu đề tài dựa trên những quy định của hệ thống pháp luật hiện nay của Việt Nam về vấn đề giải quyết tranh chấp bằng phương pháp thương lượng, đối tượng tập trung vào các chủ thể phát sinh tranh chấp là thương nhân tham gia hoạt động thương mại ở Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong tiểu luận này, tác giả nghiên cứu vấn đề giải quyết tranh chấp bằng biện pháp thương lượng trên nền tảng duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cụ thể, tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp phân tích, tổng hợp các vấn đề về cơ sở pháp lý liên quan đến cạnh tranh.
Phương pháp điều tra, thống kê để thu thập số liệu, tư liệu, hồ sơ và thông tin cần thiết có liên quan đến phạm vi đề tài.
Phương pháp so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật với nhau trong quá trình nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ vấn đề của nghiên cứu.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP THƯƠNG LƯỢNG ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát chung về tranh chấp thương mại
1.1.1. Khái niệm
Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân khi thực hiện các hoạt động thương mại, do ngành luật thương mại điều chỉnh. Vì vậy nó có những đặc trưng khác biệt so với tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động.
Thứ nhất, tranh chấp thương mại nguyên nhân phát sinh thường là thiệt hại về vật chất đối với các bên và các bên có sự thoả thuận thống nhất một cách giải quyết có lợi nhất cho cả hai bên hoặc các bên. Khác với các tranh chấp khác, tranh chấp thương mại thường có giá trị lớn được phát sinh trong việc đầu tư vốn, tài sản nhằm thu lợi nhuận. Tranh chấp nảy sinh sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của không những các đương sự mà còn ảnh hưởng đến các chủ thể kinh doanh khác.
Thứ hai, quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ thương mại là điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh. Hoạt động thương mại của doanh nghiệp là hoạt động thiết lập một mạng lưới các hành vi thương mại, mà mục tiêu của các bên khi tham gia vào các quan hệ này là lợi nhuận. Các bên tuy hợp tác, song vẫn canh tranh nhau để thu về được lợi ích nhiều nhất. Chính vì thế sẽ không tránh khỏi những mâu thuẫn bất đồng trong việc giải thích về quyền và nghĩa vụ, cũng như quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ đó của các bên, đó chính là những nguyên dân dẫn đến các tranh chấp kinh doanh thương mại.
Thứ ba, tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể được Nhà nước thừa nhận quyền doanh nghiệp có chức năng kinh doanh đó là các doanh nghiệp hoặc các loại hình khác có đăng ký kinh doanh. Vì vậy không phải tranh chấp nào phát sinh từ hoạt động kinh doanh cũng là tranh chấp thương mại. Là tranh chấp thương mại khi các đơn vị kinh tế có đăng ký kinh doanh thuộc tất cả các thành phần kinh tế (các doanh nghiệp Nhà nước, Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hộ kinh doanh) và phát sinh tranh chấp từ một hoặc các hoạt động thương mại.
Thứ tư, tranh chấp thương mại có tính chất đa dạng, phức tạp, từ tranh chấp này có thể dẫn đến tranh chấp khác. Đó là tính phức tạp và đa dạng của các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong nước hoặc nước ngoài có lợi ích khác nhau trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác, mua bán trao đổi là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục, các chủ thể cùng một lúc có thể thiết lập nhiều mối quan hệ kinh tế khiến cho những mối quan hệ này tạo thành một chuỗi quan hệ có liên quan đến nhau khiến cho nếu tranh chấp phát sinh ở quan hệ này sẽ rất có thể dẫn đến tranh chấp trong mối quan hệ khác.
1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp thương mại
Các tranh chấp thương mại nhìn chung có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, Chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại là thương nhân: Quan hệ thương mại có thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với bên không phải là thương nhân. Một tranh chấp được coi là tranh chấp thương mại khi có ít nhất một bên là thương nhân. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng phải là tranh chấp phát sinh từ hoạt động của các thương nhân thì mới xem là tranh chấp kinh doanh thương mại. Tác giả đồng tình với quan điểm này, phải là tranh chấp giữa hai thương nhân thì mới được xem là tranh chấp kinh doanh thương mại, tranh chấp có yếu tố cá nhân là tranh chấp dân sự.
Thứ hai, căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật: Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mại phát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại đến quyền lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng không làm phát sinh tranh chấp. Nội dung của tranh chấp thương mại là những xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong hoạt động thương mại. Các quan hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản, nên nội dung tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên.
Thứ ba, về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại: Tranh chấp thương mại đòi hỏi được giải quyết thỏa đáng nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của công dân, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỷ cương xã hội. Hiện nay tranh chấp thương mại được giải quyết bằng các phương thực: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án. Mỗi phương thức có sự khác nhau về tính chất pháp lý, nội dung của thủ tục, trình tự tiến hành cũng như có những ưu điểm và hạn chế khác nhau và không một phương thức nào là ưu việt tuyệt đối. Tuỳ từng trường hợp tranh chấp kinh doanh thương mại cụ thể mà các bên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/phuong-thuc-giai-quyet-tranh-chap-kinh-doanh-bang-thuong-luong-o-viet-nam/
