THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 19 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0139.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Dân sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| Mục lục | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP THẾ CHẤP TÀI SẢN | 2 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm của biện pháp thế chấp tài sản | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm | 2 |
| 1.1.2. Đặc điểm của biện pháp thế chấp tài sản | 2 |
| 1.2. Đối tượng của biện pháp thế chấp | 4 |
| 1.3. Chủ thể của thế chấp tài sản | 5 |
| 1.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thế chấp | 5 |
| 1.4.1. Quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản | 5 |
| 1.4.2. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận thế chấp tài sản | 8 |
| 1.5. Chấm dứt quan hệ thế chấp | 9 |
| CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN | 10 |
| 2.1. Quy định của pháp luật về thế chấp tài sản | 10 |
| 2.1.1. Về tài sản thế chấp | 10 |
| 2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thế chấp | 10 |
| 2.2. Những bất cập, vướng mắc của pháp luật hiện hành về tài sản thế chấp | 11 |
| 2.2.1. Về tài sản thế chấp | 11 |
| 2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ thế chấp | 11 |
| CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN | 13 |
| KẾT LUẬN | 15 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 16 |
LỜI MỞ ĐẦU
Với sự phát triển của nền kinh tế, các hoạt động tín dụng ngày càng trở nên sôi động. Đối với một nền kinh tế thị trường thì vay và cho vay là nhu cầu tất yếu. Với một nền kinh tế mới và đang phát triển như Việt Nam, sự phát triển của các hoạt động tín dụng và đặc biệt là vay tài sản lại càng nóng hơn. Trong những năm gần đây cùng với nhu cầu vay vốn của hàng trăm nghìn doanh nghiệp được thành lập mỗi năm tại Việt Nam, rất nhiều tổ chức tín dụng đã được thành lập. Để tránh tình trạng nợ xấu các tổ chức, cá nhân thường áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, đặc biệt là biện pháp thế chấp tài sản.
Thế chấp tài sản được coi là một trong những công cụ pháp lý hữu hiệu để hạn chế những rủi ro có thể nảy sinh trong các giao dịch vay vốn, tín dụng. Khi xác lập quan hệ thế chấp điều mà các bên quan tâm là lựa chọn tài sản nào để đảm bảo, tài sản đó có thuận tiện trong việc xử lý hay không? Tài sản thế chấp là yếu tố cốt lõi trong giao dịch thế chấp. Luật dân sự Việt Nam hiện nay đã có những sửa đổi bổ sung để phù hợp với điều kiện thực tế. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng thực tiễn vẫn còn những bất cập, vướng mắc, các văn bản pháp luật có liên quan đến thế chấp tài sản vẫn còn những chồng chéo, thiếu hụt gây khó khăn cho các chủ thể xác lập và lúng túng cho các cơ quan giải quyết tranh chấp. Việc nghiên cứu quy định của pháp luật liên quan đến thế chấp tài sản, đưa ra những thực trạng, giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật là điều cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài “Thế chấp tài sản – Một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam” làm tiểu luận kết thúc học phần môn Luật dân sự 2.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP THẾ CHẤP TÀI SẢN
1.1. Khái niệm và đặc điểm của biện pháp thế chấp tài sản
1.1.1. Khái niệm
Khi thực hiện giao dịch dân sự, để bảo đảm lòng tin giữa các bên thì các chủ thể thường áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Trong đó, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bằng việc thế chấp tài sản là một phương thức khá phổ biến. [6]
Khoản 1 Điều 317 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định; Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)”.
Với quy định này cho thấy, nếu như trong biện pháp cầm cố tài sản, bên cầm cố có nghĩa vụ phải giao tài sản cho bên nhân cầm cố thì trong quan hệ thế chấp, bên thế chấp chỉ dùng tài sản để bảo đảm mà không phải chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Có thể nói, bảo đến việc thực hiện nghĩa vụ dân sự bằng biện pháp thế chấp tài sản có nhiều ưu điểm và thuận lợi hơn cho các bên trong giao dịch dân sự. Bởi lẽ với biện pháp bảo đảm này mục đích của giao dịch cũng như lợi ích của các chủ thể tham gia giao dịch đều đạt được. [6]
Vậy, biện pháp thế chấp tài sản được hiểu là sự thỏa thuận của các bên, theo đó, bên thế chấp sẽ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự mà không phải chuyển giao tài sản đó thay vì việc chuyển giao các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp giữ. [6]
1.1.2. Đặc điểm của biện pháp thế chấp tài sản
Thứ nhất, trong quan hệ thế chấp không có sự chuyển giao tài sản thế chấp từ bên thế chấp sang bên nhận thế chấp. Trái ngược với biện pháp cầm cố tài sản khi bên cầm cố phải giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố, với biện pháp thế chấp, bên thế chấp chỉ phải giao những giấy tờ pháp lý là chứng từ gốc chứng minh quyền sở hữu của mình đối với tài sản thế chấp như giấy đăng ký quyền sở hữu tài sản, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, tài sản khác gắn liền với đất, hợp đồng mua bán… cho bên nhận thế chấp. Đặc điểm này tạo điều kiện thuận tiện hơn cho các bên trong quan hệ thế chấp. Bên thế chấp vẫn tiếp tục được sử dụng. khai thác công dụng của tài sản thế chấp, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản này làm tăng thu nhập. Trong khi đó, bên nhận thế chấp thì không phải bảo quản, giữ gìn, không phải chịu trách nhiệm về tài sản thế chấp mà nghĩa vụ dân sự được xác lập vẫn là nghĩa vụ được bảo đảm. [6]
Thứ hai, hiệu lực của thế chấp tài sản.
Tương tự như cầm cố tài sản, pháp luật đã quy định hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác và việc thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Thêm vào đó, khoản 2 Điều 319 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định mọi hợp đồng thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Việc đăng ký này không ảnh hưởng tới hiệu lực của hợp đồng thế chấp. Bởi lẽ, hợp đồng thế chấp có hiệu lực ngay từ thời điểm giao kết, việc đăng ký thế chấp tài sản ảnh hưởng đến hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Như vậy, nhận thế chấp và bên thế chấp khi giao kết hợp đồng dân sự có sử dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là thế chấp tài sản mà sau khi ký hợp đồng thế chấp này, bên nhận thế chấp không thực hiện việc đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật thì sẽ không làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Điều này đồng nghĩa với việc bên nhận thế chấp tự đánh mất quyền lợi chính đáng của mình mà pháp luật đã trao cho. [6]
Thứ ba, Trong thời hạn hợp đồng thế chấp có hiệu lực, tài sản thể chấp có tính ổn định tương đối. Điều đó có nghĩa là nó vẫn có khả năng bị thay đổi trong khoảng thời gian này do nhiều nguyên nhân khác nhau như thay đổi về giá trị của tài sản thế chấp, thay đổi về trạng thái của tài sản thế chấp (đối với tài sản thế chấp là tài sản hình thành trong tương lai), thay đổi về chủ thể gây ra những khó khăn, phức tạp cho bên nhận thế chấp. [6]
Song, bất cứ một biện pháp bảo đảm nào cũng có ưu điểm và cũng có những nhược điểm nhất định. Biện pháp thế chấp tài sản nhanh chóng, thuận tiện, khá đơn giản cho các bên trong quan hệ thế chấp nhưng mức độ rủi ro lại tương đối cao đặt ra cho bên nhận thế chấp. Lý do là xuất phát từ đặc trưng của quan hệ thế chấp là không chuyển giao tài sản mà chỉ chuyển giao giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản. Như vậy, tài sản thế chấp vẫn thuộc quyền chiếm hữu, sử dụng của bên thế chấp, dẫn đến tình trạng bên thế chấp có thể bán hoặc cho thuê tài sản đó làm giảm giá trị của tài sản thế chấp. Thêm vào đó, việc xác định tính xác thực của các loại giấy tờ đó lại không đơn giản vì công nghệ, kỹ thuật để làm giả các loại giấy tờ hiện nay rất tinh vi mà không phải cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng có thể phát hiện được. Do đó, quyền của bên nhận thế chấp rất dễ rơi vào thế bị động. [6]
1.2. Đối tượng của biện pháp thế chấp
Đối tượng của thể chấp là tài sản. Tài sản trong luật dân sự được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là những vật có thực mà còn bao gồm cả tiền, các giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản [6]. Phạm vi tài sản được dùng để thế chấp rộng hơn so với tài sản được dùng để cầm cố. Tài sản thế chấp có thể là vật, quyền tài sản, giấy tờ có giá, có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Tài sản đang cho thuê, cho mượn cũng được dùng để thế chấp.
Tùy từng trường hợp, các bên có thể thỏa thuận dùng toàn bộ hoặc một phần tài sản để thế chấp. Nếu người có nghĩa vụ dùng toàn bộ một bất động sản để thế chấp thì các vật phụ của bất động sản cũng thuộc tài sản thế chấp. Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. [1]
Khi đối tượng thế chấp là một tài sản được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp. Hoa lợi, lợi tức có được từ tài sản thế chấp chỉ thuộc tài sản thế chấp khi các bên có thỏa thuận hoặc trong những trường hợp pháp luật có quy định.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/the-chap-tai-san-mot-bien-phap-bao-dam-thuc-hien-nghia-vu/
[xyz-ihs snippet=”B0139″]
