THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 18 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0037.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ | 2 |
| 1.1. Nội dung nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong tố tụng dân sự | 2 |
| 1.2. Cơ sở thực tiễn của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự | 4 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ | 6 |
| 2.1. Kết quả đạt được trong thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự trong 2016-2021 | 6 |
| 2.2. Những tồn tại, hạn chế trong thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự trong thực tiễn | 8 |
| 2.3. Một số kiến nghị | 11 |
| KẾT LUẬN | 14 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 15 |
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiên đại hoá, kéo theo đó là các vấn đề khác trong xã hội nảy sinh, nhất là trong các vấn đề liên quan đến dân sự. Theo đó, Luật tố tụng dân sự quy định những vấn đề về trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; giáo dục mọi người ý thức tôn trọng và tự giác tuân theo pháp luật và góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Xây dựng và hoàn thiện bộ máy cơ quan tố tụng dân sự là mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới. Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, vấn đề xây dựng và hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng thu hút sự quan tấm rộng rãi những nhà hoạt động thực tiễn. Thông qua phương pháp logic-lịch sử, so sánh, phân tích, ta cùng đi tìm hiểu thực tiễn thực hiện quy định pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự. Từ đó phát hiện một số vấn đề còn bất cập, vướng mắc trong các quy định pháp luật về tranh tụng và đề ra các phương hướng giải quyết.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Nội dung nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong tố tụng dân sự
Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước trong việc xác định trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm được các điều kiện cần thiết làm cho các chủ thể tranh tụng thực hiện được quyền tranh tụng trong suốt quá trình tố tụng dân sự, bao gồm việc đưa ra chứng cứ, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của đương sự trước Tòa án. Tòa án căn cứ vào kết quả tranh tụng để quyết định về việc giải quyết vụ án dân sự.
Căn cứ theo Điều 24 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong tố tụng được quy định cụ thể như sau:
“1. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.
- Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này.
- Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này. Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản án, quyết định.”
Thứ nhất, các chủ thể tham gia tranh tụng có quyền tranh tụng trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự kể từ khi đương sự có yêu cầu và Tòa án thụ lí đến khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.
Cụ thể hơn, các bên đương sự được đảm bảo thực hiện các quyền sau:
– Có quyền đưa ra yêu cầu;
– Có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
– Có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu trữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án;
– Có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được;
– Có quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được;
– Đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó;
– Đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản;
– Có quyền được biết, trao đổi và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập;
– Có quyền tham gia phiên tòa;
– Có quyền trình bày về các yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu;
– Có quyền hỏi những người tham gia tố tụng khác; tranh luận về chứng cứ, trình bày quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết của vụ án;
– Có quyền bác bỏ những lập luận của các đương sự khác, đưa ra quan điểm của mình về hướng giải quyết vụ án;
– Được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng;
– Có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm;
– Có quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.
Thứ hai, các chủ thể tham gia tranh tụng được bình đẳng trong việc thực hiện quyền tranh tụng, theo đó các bên đương sự được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự và bình đẳng về trách nhiệm pháp lý.
Nội dung này thể hiện các chủ thể tranh tụng không chỉ có các quyền tranh tụng mà họ được pháp luật thừa nhận bình đẳng khi thực hiện quyền tranh tụng của mình. Sự bình đẳng này được thể hiện trên hai khía cạnh: họ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự và họ bình đẳng về trách nhiệm pháp lý của mình. Nội dung này thể hiện tính cân bằng của pháp luật trong việc đảm bảo việc thực hiện tranh tụng trong xét xử.
Thứ ba, Tòa án có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tạo điều kiện cho các chủ thể tranh tụng thực hiện quyền tranh tụng để ra bản án, quyết định đúng pháp luật.
Tòa án với tư cách là chủ thể dẫn dắt hoạt động tranh tụng trong tố tụng có trách nhiệm tôn trọng quyền tranh tụng của các bên đương sự, cơ quan này phải đảm bảo cho đương sự và những người tham gia tố tụng khác hiểu và đáp ứng đủ điều kiện thực hiện quyền tranh tụng theo quy định của pháp luật. Mọi đương sự đều phải được Tòa án triệu tập hợp lệ để thực hiện quyền tranh tụng. Tòa án phải đảm bảo cho các đương sự được bình đằng trong thực hiện quyền tranh tụng. Tòa án chỉ được đưa ra phán quyết dựa vào những chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý đã được hỏi, tranh luận công khai tại Tòa án.
1.2. Cơ sở thực tiễn của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự
Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự của Toà án cho thấy tỷ lệ các vụ án dân sự bị hủy bỏ, sửa còn cao, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng trong đó có nhiều trường hợp là khi tiến hành giải quyết các vụ án dân sự, Toà án đã vi phạm thủ tục tố tụng, đặc biệt là chưa tạo điều kiện cho các đương sự trình bày chứng cứ, lý lẽ để làm sáng tỏ vụ án.
Trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay việc nâng cao chất lượng xét xử các vụ án dân sự của Toà án là một đòi hỏi cấp bách. Vì vậy, phải đổi mới mô hình tố tụng dân sự, trong đó kết hợp những yếu tố hợp lý của mô hình tố tụng, tranh tụng với thẩm vấn.
Tranh tụng trong tố tụng dân sự là giải pháp làm cho Toà án gần dân, giúp dân, hiểu dân, tăng cường hiệu quả công tác xét xử các vụ án dân sự, hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ các vụ án dân sự bị hủy, sửa đổi do lỗi chủ quan hoặc phải kéo dài thời hạn giải quyết.
Tranh tụng trong tố tụng dân sự xuất phát từ yêu cầu thực hiện chiến lược cải cách tư pháp của Nhà nước ta. Trước những yêu cầu của việc đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực, để hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung cũng như đổi mới thủ tục Tố tụng dân sự nói riêng, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Cụ thể, tại Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo”. Đây là quy định mang tính chất bản lề cho việc xây dựng và hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự. Vì vậy, khi Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được thông qua thì nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự đã được khẳng định là một trong những nguyên tắc chung nhất của Luật tố tụng dân sự.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0037″]
