THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 25 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0108.
- Pháp luật áp dụng: Hiến pháp năm 2013.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ÁN LỆ VÀ ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ | 5 |
| 1.1. Tổng quan về án lệ theo pháp luật Việt Nam | 5 |
| 1.1.1. Đặc điểm của án lệ | 5 |
| 1.1.2. Án lệ theo quy định của pháp luật Việt Nam | 5 |
| 1.2. Thực tiễn áp dụng án lệ trong một số bản án giải quyết vụ việc dân sự | 9 |
| Kết luận Chương 1 | 12 |
| CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG ÁN LỆ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ | 14 |
| 2.1. Những thuận lợi khi triển khai án lệ tại Việt Nam | 14 |
| 2.2. Những khó khăn cho việc triển khai án lệ để giải quyết các vụ việc dân sự ở Việt Nam | 15 |
| 2.3. Phương hướng hoàn thiện hệ thống án lệ dân sự tại Việt Nam | 16 |
| Kết luận Chương 2 | 18 |
| KẾT LUẬN | 19 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 20 |
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc cải cải cách và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, không chỉ đòi hỏi phải quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật mà còn đòi hỏi phải áp dụng pháp luật một cách thống nhất. Việc áp dụng thống nhất pháp luật của Tòa án thể hiện chỗ những vụ việc giống nhau thì phải được xử một cách giống nhau, tức phải hướng đến sự công bằng.
Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xác định: “Tòa án nhân dân tối cao Có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Quy định về nhiệm vụ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tại Điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 ghi rõ: “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”.
Quá trình thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp, Đảng đã đề ra quan điểm cần phát triển án lệ và áp dụng án lệ trong xét xử. Điều này phù hợp với thông lệ quốc tế và góp phần tháo gỡ những khó khăn của thực tiễn xét xử. Quan điểm của Đảng cũng đã được cụ thể hóa thành những quy định cụ thể trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và các luật tố tụng.
Án lệ được sử dụng trong những vụ việc có tình tiết và sự kiện pháp lý giống nhau để thống nhất giải quyết vụ việc đúng pháp luật. Đây cũng là những vụ việc được Tòa án nhân dân tối cao chọn lọc qua các quy trình xét duyệt để trở thành vụ việc mẫu mực, áp dụng cho các thẩm phán giải quyết những vụ việc có tình tiết tương tự.[1] Tại nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28 tháng 10 năm 2015 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nghị quyết về án lệ. Đây là lần đầu tiên Việt Nam công nhận và xây dựng cho riêng mình một quy trình tuyển chọn và áp dụng án lệ. Việc tuyển chọn và áp dụng án lệ của Việt nam có nhiều điểm tương đồng với thế giới nhưng cũng có nhiều khác biệt; Khác biệt từ việc xây dựng án lệ được tuyển chọn bởi Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khác biệt từ việc áp dụng án lệ là yêu cầu trước tiên đối với thẩm phán xét xử các loại án; Khác biệt từ ý niệm pháp luật Việt Nam là hệ thống dân luật thành văn chịu ảnh hưởng nhiều của truyền thống pháp luật Xô Viết không coi án lệ là nguồn của luật, đa phần người dân chưa hiểu án lệ là gì và việc nhận thức về án lệ chưa nhiều; Khác với hệ thống dân luật thành văn của các nước tiên tiến có hệ thống pháp luật tiên tiến ở Châu Âu như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa liên bang Đức.
Thực tiễn xét xử các vụ việc nói chung, các vụ việc dân sự nói riêng cho thấy còn nhiều bất cập. Còn rất nhiều vụ việc dân sự Có những quan điểm khác nhau trong đường lối giải quyết. Việc áp dụng pháp luật mỗi địa phương, mỗi cấp Tòa án, mỗi Thẩm phán với cùng một nội dung còn khác nhau. Dẫn đến tình trạng án bị hủy, sửa nhiều, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm sút uy tín của Tòa án.
Việc áp dụng án lệ trong quá trình giải quyết vụ việc là một bước tiến mới trong quá trình cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta, vì án lệ mang tính thực tiễn cao, có khả năng khắc phục những lỗ hổng pháp luật một cách nhanh chóng và kịp thời. Chính từ thực tiễn đó, tác giả của bài tiểu luận đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu đề tài “Áp dụng Án lệ trong giải quyết vụ việc dân sự”.
Tình hình nghiên cứu
Vấn đề về án lệ đã được đề cập ở nhiều mức độ khác nhau trong một số công trình nghiên cứu độc lập hoặc đăng tải dưới các bài viết trên các tạp chí pháp luật như:
Nguyễn Hữu Cường, “Án lệ – Lý luận và thực tiễn”, đề tài khoa học Trường đại học Kinh tế – Luật HCM, TP. Hồ Chí Minh, 2015;
Đào Trí Úc, “Án lệ: lịch sử, hiện tại và triển vọng phát triển ở Việt Nam”, bài viết tạp chí Phòng Tư pháp Tp. Tam Kỳ, Quảng Nam, 2015;
Đỗ Thành Trung, “Án lệ: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, bài viết tạp chí khoa học Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, 2013;
Lê Mạnh Hùng “Án lệ trong hệ thống Tòa án Australia và kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển án lệ”, Tạp chí Luật học, số 6/2011;
Đặng Thị Thơm và Nguyễn Đình Phong, “Vai trò của án lệ và kinh nghiệm áp dụng án lệ của một số quốc gia trên thế giới”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 5/2013…
Đoàn Thị Ngọc Hải, “Lý luận và thực tiễn áp dụng án lệ và kiến nghị đối với việc áp dụng án lệ ở Việt Nam”, bài viết Nghiên cứu trao đổi của Bộ Tư pháp, 2016;
Nguyễn Văn Cường, “Triển khai phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao”, chuyên mục bình luận Tư pháp quốc tế, 2014;
Nhóm tác giả Toshiaki Zimura, Ryu Takabayashi và Christoph Rademacher, “Bản chất ràng buộc của các Quyết định của Tòa án trong Hệ thống Luật Dân sự của Nhật Bản”, bình luận truyền thống tạp chí SLS CGCP, 2015;
Cao Việt Thắng, “Án lệ và án mẫu – những khả năng áp dụng ở nước ta hiện nay”, tạp chí Thông tin pháp luật, 2011;
Các tác phẩm nêu trên cung cấp những góc nhìn đa dạng về án lệ và áp dụng án lệ, cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn từ hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau trên thế giới. Trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của các tác phẩm này, bài tiểu luận đã được triển khai theo hướng tổng hợp những điểm nổi bật của từng tác phẩm, thể hiện góc nhìn riêng của tác giả đồng thời sáng tạo thêm những nội dung liên quan tới việc áp dụng án lệ.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu ở phương diện lý luận và thực tiễn án lệ và việc áp việc áp dụng án lệ trong giải quyết vụ việc dân sự ở Việt Nam hiện nay. Để có thể đưa ra một số giải pháp nhằm áp dụng án lệ trong giải quyết các vụ việc dân sự tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của bài tiểu luận là nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống giải pháp bảo đảm việc áp dụng án lệ trong giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân (TAND) ở Việt Nam một cách hợp pháp và có hiệu quả.
Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận này được nghiên cứu dựa trên quan điểm của phép duy vật biện chứng và nền tảng tư duy của chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu cho tới hoàn thiện đề tài tác giả có sử dụng các phương pháp nghiên cứu logic pháp lý, hệ thống hoá, phân tích, tổng hợp và sử dụng phương pháp so sánh trong pháp luật.
Kết cấu của đề tài
Tiểu luận này bao gồm ngoài phần mở đầu, phần kết luận, nội dung danh mục tài liệu tham khảo thì cấu trúc của tiểu luận bao gồm 2 chương, đó là:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về án lệ và áp dụng án lệ trong giải quyết vụ việc dân sự
Chương 2: Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về việc áp dụng án lệ trong giải quyết vụ việc dân sự.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ÁN LỆ VÀ ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
1.1. Tổng quan về án lệ theo pháp luật Việt Nam
1.1.1. Đặc điểm của án lệ
Thứ nhất, án lệ trước hết phải là bản án, quyết định của Tòa án. Bản án và quyết định này phải chứa đựng cách thức chung, quan điểm chung được Tòa án áp dụng trong việc giải quyết vấn đề pháp luật trong bản án, quyết định đó.
Thứ hai, án lệ đề cập đến sự lặp đi lặp lại của một giải pháp được Tòa án áp dụng cho nhiều vụ việc tạo ra cái gọi là tiền lệ. Chính do đặc điểm này mà không phải mọi bản án, quyết định của Tòa án đều có giá trị án lệ mà chỉ những bản án, quyết định chứa đựng những vấn đề về giải thích và áp dụng pháp luật để từ đó có thể rút ra nguyên tắc chung áp dụng cho những vụ việc khác mới có giá trị nâng lên trở thành án lệ. Tuy nhiên, tính tiền lệ này khác nhau ở từng nước. Tại các nước theo hệ thống Civil Law, tính tiền lệ này không bắt buộc, còn ở các nước theo hệ thống Common Law, việc tuân thủ nguyên tắc này gần như là triệt để.
Thứ ba, bản án, quyết định có giá trị án lệ phải là cơ sở cho Tòa án cấp dưới vận dụng khi xét xử một vụ việc tương tự. Cơ sở này có thể mang tính chất bắt buộc hoặc mang tính chất tham khảo. Tính tương tự ở đây được hiểu là tương tự nhau về tình tiết, sự kiện cơ bản và tương tự về pháp lý.
1.1.2. Án lệ theo quy định của pháp luật Việt Nam
Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP “về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ” đã đưa ra định nghĩa khái niệm án lệ tại Điều 1 như sau: “Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể”.
Định nghĩa này chưa tường minh về nội dung Điều 2 của Nghị quyết số 03/2015 có bổ sung thêm cho khái niệm án lệ là “những lập luận làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng”.
Nghị quyết 03/2015 cho thấy cách hiểu về án lệ là sự phân tích, giải thích các vấn đề pháp lý, sự kiện pháp lý qua đó thì có cơ sở cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân khi giải quyết các vụ việc, vụ việc có thể nêu ra được các nguyên tắc, phương thức để có thể giải quyết hoặc dẫn chiếu các quy phạm pháp luật cần áp dụng. Đối với những vụ việc, vụ việc đặc biệt về dân sự mà vấn đề cốt yếu ở đây là pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa đầy đủ để thoả mãn áp dụng hay chưa có luật quy định mà các đương sự không thoả thuận được.
Trong trường hợp mà thẩm phán lập luận, biện giải về việc lựa chọn tập quán hoặc quy định tương tự của pháp luật hoặc phân tích, diễn giải về áp dụng “lẽ công bằng” để từ đó có cơ sở cho phán quyết tại bản án, quyết định, thì lập luận, biện giải hoặc phân tích, diễn giải nêu trên chính là án lệ nếu bản án, quyết định đó được lựa chọn theo thể thức án lệ thì có nhiều khả năng trở thành án lệ theo quy trình được hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2015.
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định về án lệ
Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 quy định Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền lựa chọn bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Toà án, lựa chọn các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để từ đó nghiên cứu, tổng kết phát triển thành án lệ và Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong tất cả các hoạt động xét xử[2].
Luật tổ chức Toà án nhân dân quy định chức năng của Hội đồng thẩm phán bao gồm cả chức năng chỉ đạo việc tổng kết thực tiễn xét xử, xây dựng và ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; chức năng trong tổng kết phát triển án lệ và đặc biệt là chức năng công bố án lệ, là rất mới như một bước đột phá về pháp lý.[3]
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về án lệ
Bộ luật dân sự năm 2015 có sự đồng thuận với chủ trương của Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, có sự cụ thể hoá quy định của Hiến pháp năm 2013 về chức năng thực thi quyền tư pháp của Tòa án, có sự tiếp thu các quy định đã có trước đó của Bộ luật dân sự năm 2005 khi có quy định về áp dụng tương tự pháp luật. Đó là trong trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thoả thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì cho phép áp dụng quy định của pháp luật để điều chỉnh tương tự. Nếu không thể áp dụng quy định của pháp luật về áp dụng tương tự thì được phép áp dụng các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự, áp dụng án lệ, lẽ công bằng.[4] Tuy mới chỉ là bước đầu công nhận vị trí vai trò của án lệ tại Việt Nam qua bộ luật mẹ điều chỉnh các quan hệ cơ bản, nền tảng của xã hội nhưng cũng là một thành tựu đáng ghi nhận của các nhà làm luật Việt Nam.
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về án lệ
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã có quy định yêu cầu Toà án phải tiếp nhận tất cả các yêu cầu của đương sự khi có yêu cầu về bảo vệ quyền con người, quyền công dân, yêu cầu bảo vệ lợi ích nhà nước, yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Cụ thể hơn còn yêu cầu Toà án không được từ chối giải quyết vụ việc khi không có luật áp dụng.
Trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng thì Tòa án sẽ áp dụng nguyên tắc xét xử được Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự quy định để giải quyết. Các nguyên tắc của việc giải quyết này được quy định như sau…
[1] Đặng Thị Thơm và Nguyễn Đình Phong “Vai trò của án lệ và kinh nghiệm áp dụng án lệ của một số quốc gia trên thế giới”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 5/2013, tr.16.
[2] Điểm c khoản 2 Điều 22 Luật tổ chức TAND 2014.
[3] Khoản 5 Điều 27 Luật tổ chức TAND 2014.
[4] Từ điển Black’s Law dictionary, 1979, 5th edition, tr. 1059.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/ap-dung-an-le-trong-giai-quyet-vu-viec-dan-su/
[xyz-ihs snippet=”B0108″]
