THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật – Đại học Huế
- Định dạng: WORD
- Số trang: 19 trang (cả bìa)
- Năm: 2021 / Mã số: B0208.
- Pháp luật áp dụng: Luật Bình đẳng giới năm 2006.
- Từ khóa: Bình đẳng giới/ Giáo dục
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2021] Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục qua thực tiễn tại Thành phố Hà Nội 3 B0208 bien phap thuc day binh dang gioi trong linh vuc giao duc 3](https://bunny-wp-pullzone-evwxkqab4s.b-cdn.net/wp-content/uploads/2024/02/B0208-bien-phap-thuc-day-binh-dang-gioi-trong-linh-vuc-giao-duc-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC | 2 |
| 1.1. Khái niệm và ý nghĩa của bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục | 2 |
| 1.1.1. Khái niệm bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục | 2 |
| 1.1.2. Ý nghĩa của bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục | 3 |
| 1.2. Khái niệm về biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục | 5 |
| 1.2.1. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới | 5 |
| 1.2.2. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục | 6 |
| CHƯƠNG 2: BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC QUA THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | 7 |
| 2.1. Tình hình đi học của dân số trong độ tuổi đi học phổ thông | 7 |
| 2.2. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi đi học và không đi học phân theo thành thị, nông thôn | 7 |
| 2.3. Đánh giá thực tiễn việc thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục tại Thành phố Hà Nội | 8 |
| 2.3.1. Thành tựu đạt được | 8 |
| 2.3.2. Một số tồn tại và nguyên nhân của tồn tại | 9 |
| CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC QUA THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | 12 |
| KẾT LUẬN | 15 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 16 |
LỜI MỞ ĐẦU
Bình đẳng giới đang là vấn đề được rất nhiều quốc gia quan tâm, trong đó có Việt Nam. Để thực hiện được mục tiêu về bình đẳng giới thì việc giáo dục nâng cao nhận thức về bình đẳng giới là hết sức cần thiết. Bình đẳng giới trong giáo dục làm tăng chất lượng nguồn nhân lực trung bình của xã hội. Nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và gái có khả năng thiên bẩm như nhau và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập và đào tạo nhiều hơn, thì việc thiên vị trẻ em trai có nghĩa là những trẻ em trai có tiềm năng thấp hơn trẻ em gái lại được học hành nhiều hơn, như thế, chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể đạt được và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế. Bình đẳng giới trong giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực của tương lai. Khi mức độ bất bình đẳng giới trong giáo dục giảm đi, tức là ở mỗi cấp đào tạo, tỷ lệ nữ so với nam tăng lên và khi trình độ và nhận thức của phụ nữ trong gia đình được cải thiện, số lượng và chất lượng đầu tư cho giáo dục đối với con cái sẽ được cải thiện trực tiếp thông qua sự dạy dỗ của người mẹ cũng như khả năng thuyết phục hoặc quyền của người mẹ trong việc đầu tư nhiều hơn cho giáo dục đối với con cái. Ngoài ra, trình độ của người mẹ cao hơn, đóng vai trò quyết định trong việc chăm sóc và dinh dưỡng đối với con cái. Về lâu dài, các tác động này sẽ làm cho chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện và năng suất lao động trung bình của toàn xã hội sẽ được nâng lên.
Hà Nội là Thành phố đông dân thứ hai của cả nước, sau thành phố Hồ Chí Minh với con số lên đến hơn 8 triệu người, trong đó: Dân số nam là 3.991.919 người, chiếm 49,6%; dân số nữ là 4.061.744 người, chiếm 50,4%. Dân số sống ở khu vực thành thị là 3.962.310 người, chiếm 49,2% và ở khu vực nông thôn là 4.091.353 người, chiếm 50,8%. Cho nên có thể thấy, qua tìm hiểu thực tiễn bình đẳng giới ở Thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra biện pháp để hướng đến một nền giáo dục có sự bình đẳng giữa nam và nữ; hơn nữa là giúp cho thành phố ngày một phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai. Chính vì lẽ đó, em đã lựa chọn đề tài cho bài tiểu luận: “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục qua thực tiễn tại Thành phố Hà Nội”.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục
1.1.1. Khái niệm bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục
– “Giới” là thuật ngữ chỉ vai trò, trách nhiệm và quan hệ xã hội của mỗi cá nhân. Nói đến giới là nói đến việc phân công lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích giữa các phái nam, nữ… trong bối cảnh một xã hội cụ thể. Giới được hình thành do quá trình xã hội hóa cá nhân (do được giáo dục, tự học, bắt chước); khác nhau ở mỗi nước, mỗi địa phương; thay đổi theo thời gian, theo quá trình phát triển kinh tế xã hội. Bình đẳng giới là mỗi cá nhân, không phân biệt giới tính, được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người và có cơ hội đóng góp, hưởng thụ những thành quả phát triển của xã hội.
– “Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục” là việc cá nhân được bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo bồi dưỡng, được lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo; được tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; có cơ hội như nhau trong việc tham gia giảng dạy và quản lý giáo dục; được tiếp cận chương trình giáo dục mang nội dung bình đẳng giới; được học tập trong môi trường giáo dục an toàn và bình đẳng. Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục là một trong những yếu tố tác động mạnh nhất đến tiến trình bình đẳng giới. Bởi vì, giáo dục là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội. Trong đó, hoạt động của nhà trường đóng vai trò quan trọng. Ảnh hưởng của các chương trình nội khóa, ngoại khóa, hành vi ứng xử giữa người với người trong nhà trường tới nhận thức là rất lớn. Qua những môn học trên lớp, qua những hoạt động ngoại khóa được tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức về bình đẳng giới, từ đó chi phối hành vi ứng xử bình đẳng giới của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục. Như vậy, bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục là việc cá nhân có cơ hội và được tạo điều kiện như nhau trong việc tiếp cận các cấp học và chương trình giáo dục. Nội dung chương trình giáo dục phải đảm bảo bình đẳng giới; người làm công tác giáo dục phải có nhạy cảm giới; môi trường giáo dục thân thiện, an toàn, bình đẳng nhằm đạt được mục tiêu về bình đẳng giới.
1.1.2. Ý nghĩa của bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục
Một là, bình đẳng giới trong giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực. Các quốc gia muốn phát triển thịnh vượng, bền vững đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực phát triển có chất lượng cao. Để đạt được điều này, đảm bảo bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, trẻ em trai và trẻ em gái khi sinh ra có khả năng thiên bẩm như nhau (chưa có công trình khoa học nào tuyên bố điều ngược lại) mà do định kiến giới, trẻ em trai thường được thiên vị hơn nên được học tập và đào tạo nhiều hơn, thì sẽ dẫn đến tình trạng có những trẻ em trai có tiềm năng thấp hơn trẻ em gái lại được học tập nhiều hơn. Điều này có thể dẫn đến hệ quả là chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể đạt được và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế. Do vậy, khi mức độ bất bình đẳng giới trong giáo dục giảm đi, khi trình độ và nhận thức của trẻ em gái và phụ nữ trong gia đình được cải thiện thì việc đầu tư cho giáo dục đối với các con sẽ được cải thiện. Điều này được thể hiện trực tiếp thông qua sự dạy dỗ của người mẹ, khả năng thuyết phục hoặc quyền quyết định của người mẹ trong việc đầu tư nhiều hơn cho giáo dục của các con, bất kể là con trai hay con gái. Hơn nữa, khi trình độ và nhận thức của người mẹ cao hơn thì việc chăm sóc và quyết định dinh dưỡng đối với con cái tốt hơn. Tất cả những điều đó sẽ góp phần làm cho chất lượng nguồn nhân lực được tăng lên và năng suất lao động của toàn xã hội sẽ được nâng cao.
Hai là, xóa bỏ định kiến giới, góp phần quan trọng cho sự thành công của tiến trình bình đẳng giới. Trẻ em trai, trẻ em gái được tạo điều kiện và cơ hội học tập và đào tạo như nhau sẽ xóa bỏ định kiến giới. Định kiến giới là nhận thức thiên lệch của xã hội về những gì mà phụ nữ và nam giới có khả năng và các hoạt động mà họ có thể làm, địa vị xã hội mà họ đang có với tư cách họ là nam hay nữ (phụ thuộc vào giới tính). Chẳng hạn, nam giới thì mạnh mẽ, độc lập, quyết đoán, sáng tạo, có khả năng lãnh đạo, thiếu sự tỉ mỉ; nữ thì phụ thuộc , bị động, mềm dẻo, chi tiết… Vì những định kiến giới đó, mà hiện nay, vẫn có quan niệm cho rằng, có những ngành nghề phù hợp với nam và có những ngành nghề phù hợp với nữ. Theo số liệu của UNESCO, chỉ có khoảng 30% tổng số nữ sinh viên đại học chọn theo học các ngành thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học. Tình trạng phân biệt đối xử một cách có hệ thống dẫn đến thực tế là phụ nữ chiếm chưa tới 30% số công việc nghiên cứu khoa học, công nghệ và sáng tạo trên toàn cầu, mặc dù phụ nữ chiếm gần một nửa dân số thế giới. Định kiến giới có tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển cá nhân của phụ nữ và nam giới. Các nghiên cứu lý thuyết cũng như thực tiễn đã chứng minh, nam và nữ chỉ khác nhau về mặt xã hội. Quan niệm lãnh đạo hoặc các công việc thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật không thích hợp đối với phụ nữ đã dẫn đến việc đánh giá khắt khe hoặc không công nhận khả năng quản lý, nghiên cứu, sáng tạo của phụ nữ. Hoặc quan niệm nam giới không phù hợp với các công việc cần sự khéo léo, mềm dẻo, tỉ mỉ đã gạt nam giới ra khỏi các công việc thuộc lĩnh vực sư phạm, nghệ thuật, dịch vụ.Vì vậy, khi người làm công tác giáo dục, người học và chương trình giáo dục và đào tạo đảm bảo bình đẳng giới thì học sinh nữ, học sinh nam sẽ có cơ hội học tập trong tất cả các bậc học, các ngành nghề, trong đó bao gồm cả những ngành nghề mà trước đây nhiều người cho rằng chỉ phù hợp đối với một giới. Học sinh nữ và học sinh nam học tập và chọn nghề theo năng lực và sở thích cá nhân mà không bị chi phối bởi vấn đề giới tính. Điều này sẽ làm thay đổi nhận thức về vai trò giới, về phân công lao động theo giới và xóa bỏ định kiến giới.
Ba là, nâng cao vị thế của phụ nữ và trẻ em gái. Nâng cao trình độ học vấn, hiểu biết, trình độ lao động nữ, dẫn đến phụ nữ tham gia vào thị trường lao động chất lượng cao, thu nhập tăng lên, từ đó nâng cao vị thế của họ trong việc tiếp cận và kiểm soát nguồn lực kinh tế. Khi phụ nữ làm chủ và độc lập về kinh tế họ sẽ có khả năng đưa ra các quyết định, có tiếng nói trong gia đình và cộng đồng. Hơn nữa, khi trẻ em gái và phụ nữ được trang bị những kiến thức và kỹ năng một cách toàn diện thì họ mới có thể đủ tiêu chuẩn và điều kiện để được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, có cơ hội tham gia hệ thống chính trị. Một nền giáo dục có chất lượng, bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới thì không chỉ cung cấp kiến thức cho người học, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của thị trường mà còn trang bị những phẩm chất, đạo đức, kỹ năng sống nhân văn, trong đó có quan điểm về bình đẳng giới. Giáo dục bình đẳng giới trong nhà trường, đặc biệt là cấp học phổ thông sẽ có tác động rất lớn đến phát triển nhân cách của học sinh, hình thành các quan niệm tiến bộ về giới ngay từ khi học tiểu học, tạo nền tảng cho hành động có trách nhiệm về giới và nhạy cảm giới khi các em trưởng thành. Nam giới tôn trọng và công nhận năng lực cá nhân của phụ nữ, gạt bỏ mọi định kiến, kỳ thị đối với phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Có thể nhận định rằng, bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục có ý nghĩa quyết định để đạt được bình đẳng giới trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx) \