THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 07 trang.
- Năm: 2024 / Mã số: B0077.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Lao động năm 2019.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Bình luận điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019 về thương lượng tập thể 1 binh luan diem moi cua bo luat lao dong nam 2019 ve thuong luong tap the](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/binh-luan-diem-moi-cua-bo-luat-lao-dong-nam-2019-ve-thuong-luong-tap-the.jpg)
Bộ Luật Lao động năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 và sẽ thay thế cho Bộ Luật Lao động năm 2012. BLLĐ 2019 có nhiều điểm mới sửa đổi và bổ sung so với BLLĐ 2012 như: Giải thích rõ về hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc; Không còn hợp đồng lao động theo thời vụ; Chính thức tăng tuổi nghỉ hưu lên 62 đối với nam, 60 đối với nữ… Một trong những điểm đáng chú ý của Bộ Luật 2019 là những điểm mới về Thương lượng tập thể. Dưới đây là những điểm mới của Bộ luật lao động 2019 về thương lượng tập thể:
Thứ nhất, Sửa đổi, bổ sung quy định về thương lượng tập thể:
Thay vì quy định mục đích thương lượng tập thể như BLLĐ 2012 thì tại Điều 65 BLLĐ 2019 đã đưa ra khái niệm thương lượng tập thể, làm cơ sở lý thuyết để quy định về các vấn đề nội dung, chủ thể, nguyên tắc, quy trình thương lượng tập thể. Theo đó, thương lượng tập thể là việc đàm phán, thỏa thuận giữu một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động với một bên là một hoặc nhiều người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động nhằm xác lập điều kiện lao động, quy định về mối quan hệ giữa các bên và xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Bộ Luật Lao động 2019 đã quy định cụ thể và rõ ràng hơn về các bên tham gia thương lượng tập thể so với BLLĐ 2012. Cụ thể cụm từ “người sử dụng lao động” và cụm từ “người lao động” đã được thay thế lần lượt bằng các cụm từ “một hoặc nhiều người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động” và “một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động”. Đây là điểm mới thuận lợi trong hoạt động thương lượng tập thể, quy định có phần đầy đủ hơn và hiểu sâu hơn so với quy định cũ.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung về nội dung thương lượng tập thể:
Nếu như Bộ luật Lao động năm 2012 chỉ quy định 5 nội dung thương lượng tập thể tại Điều 70 (tiền lương, tiền thưởng; trợ cấp và nâng lương; thời gian làm việc, nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca; bảo đảm việc làm đối với người lao động; bảo đảm an toàn lao động, thực hiện nội quy và các nội dung khác mà hai bên quan tâm) thì tại Điều 67 BLLĐ 2019 đã quy định rộng hơn về các điều khoản trong nội dung của thương lượng tập thể với sự lựa chọn một hay nhiều mục phụ thuộc vào một hay các bên quan tâm; quy định thêm về nội dung điều kiện, phương tiện hoạt động của tổ chức đại diện người lao động; mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động; Cơ chế, phương thức phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động; Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ thai sản, nghỉ hằng năm; phòng, chống bạo lực và quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Tất cả nhằm bao quát được các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích các bên quy định trong nội dung khác của bộ luật, đồng thời đây là vấn đề khó thực thi thống nhất, dễ gây ra bất đồng tranh chấp, cần thiết có sự đồng thuận của các bên.
Thứ ba, sửa đổi “Quyền yêu cầu thương lượng tập thể của mỗi bên” thành “Quyền thương lượng tập thể của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở trong doanh nghiệp”:
Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở “là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động”.
Theo đó, sửa đổi bổ sung quy định quyền thương lượng tập thể của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở trong doanh nghiệp (bao gồm tổ chức công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động doanh nghiệp) để phù hợp với quy định trong cùng một doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động.
Điều 68 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định quyền thương lượng tập thể của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở trong doanh nghiệp như sau: “1. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền yêu cầu thương lượng tập thể khi đạt tỷ lệ thành viên tối thiểu trên tổng số người lao động trong doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ; 2. Trường hợp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này thì tổ chức có quyền yêu cầu thương lượng là tổ chức có số thành viên nhiều nhất trong doanh nghiệp. Các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khác có thể tham gia thương lượng tập thể khi được tổ chức đại diện người lao động có quyền yêu cầu thương lượng tập thể đồng ý; 3. Trường hợp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà không có tổ chức nào đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này thì các tổ chức có quyền tự nguyện kết hợp với nhau để yêu cầu thương lượng tập thể nhưng tổng số thành viên của các tổ chức này phải đạt tỷ lệ tối thiểu theo quy định tại khoản 1 Điều này”.
Việc thừa nhận tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp nói chung và quyền của tổ chức này trong thương lượng tập thể nói riêng đã góp phần nâng cao vai trò, vị thế của tổ chức đại diện người lao động. Đồng thời, khắc phục được những hạn chế trong việc thiếu vắng chủ thể đại diện người lao động và sự yếu kém của các tổ chức công đoàn trong thời gian qua. Quy định này đã thể hiện sự phù hợp với Hiến pháp 2013, đặc biệt thể hiện sự tương thích của pháp luật lao động Việt Nam với các tiêu chuẩn lao động của Tổ chức lao động quốc tế, khắc phục được những hạn chế, yếu kém còn tồn tại.
Thứ tư, bổ sung quy định về thời gian thương lượng tập thể và tập thể không thành:
Nếu như các bộ luật trước đây không quy định thời gian thương lượng tập thể, dẫn đến việc thương lượng tập thể kéo dài, gây tốn kém thời gian của các bên mà không đem lại hiệu quả. Để khắc phục bất cập này, đồng thời để phù hợp với thực tế cũng như góp phần đảm bảo nguyên tắc thiện chí trong thương lượng tập thể. Theo đó, thời gian thương lượng tập thể không được vượt quá 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Ngoài ra, để nhằm mục đích đưa ra hướng giải quyết cụ thể sau thương lượng, BLLĐ 2019 đã bổ sung quy định thương lượng tập thể không thành tại Điều 71 của Bộ luật này. Cụ thể:
Thương lượng tập thể không thành thuộc một trong các trường hợp: Một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng; đã hết thời hạn 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng mà các bên không đạt được thỏa thuận; chưa hết thời hạn 90 ngày nhưng các bên cùng xác định và tuyên bố về việc thương lượng tập thể không đạt được thỏa thuận. Khi thương lượng không thành, các bên thương lượng tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật này trong khi đã giải quyết tranh chấp lao động, tổ chức đại diện người lao động không được tổ chức đình công.
Thứ năm, bổ sung quy định thương lượng tập thể ngành và thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia:
Quy trình tiến hành thương lượng tập thể ngành, tham gia thỏa ước lao động tập thể ngành và thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia đã được quy định ở BLLĐ 2012, song không quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung thương lượng tập thể ở các phạm vi này, vì thế việc thực thi trong thực tế có nhiều vướng mắc và không thống nhất. Bộ luật Lao động năm 2019 ra đời,quy định cụ thể về thương lượng tập thể ngành và thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia để khắc phục bất cập đó. Theo đó, tách quy định thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thành các điều riêng và sửa đổi, bổ sung quy định về: nguyên tắc, nội dung, quy trình tiến hành, đại diện thương lượng đối với thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia. Các nguyên tắc, nội dung thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thực hiện như nguyên tắc thương lượng tập thể do các bên thỏa thuận quyết định, bao gồm cả việc thỏa thuận thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia do tiến hành thương lượng tập thể thông qua Hội đồng thương lượng tập thể. Trường hợp thương lượng tập thể ngành thì đại diện thương lượng là tổ chức công đoàn ngành và tổ chức đại diện người sử dụng lao động cấp ngành quyết định. Trường hợp thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thi đại diện thương lượng do các bên thương lượng quyết định trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận.
Đặc biệt đây là lần đầu tiên BLLĐ quy định về thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thông qua Hội Đồng thương lượng tập thể. Theo Điều 73 Bộ luật: Trên cơ sở đồng thuận, các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia có thể yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của các doanh nghiệp tham gia thương lượng hoặc nơi do các bên lựa chọn trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia thương lượng có trụ sở chính tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập Hội đồng thương lượng tập thể để tiến hành thương lượng tập thể. Khi nhận được yêu cầu của các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định Thành lập hội đồng thương lượng tập thể để tổ chức việc thương lượng tập thể. Thành phần hội đồng thương lượng tập thể bao gồm:
a) Chủ tịch Hội đồng do các bên quyết định và có trách nhiệm điều phối hoạt động của hội động thương lượng tập thể, hỗ trợ cho việc thương lượng tập thể của các bên;
b) Dại diện các bên thương lượng tập thể do mỗi bên cử. Số lượng đại diện mỗi bên thương lượng tham gia Hội đồng do các bên thỏa thuận;
c) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng thương lượng tập thể tiến hành thương lượng theo yêu cầu của các bên và tự chấm dứt hoạt động thi thoáng ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia được ký kết hoặc theo thỏa thuận của các bên. Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và xã hội quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của Hội đồng thương lượng tập thể.
Thứ sáu, sửa đổi, bổ sung quy định trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong thương lượng tập thể:
Theo đó, bổ sung trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc: xây dựng và cung cấp các thông tin, dữ liệu; hỗ trợ các bên đạt được thỏa thuận; thành lập Hội đồng thương lượng tập thể khi có yêu cầu.
Điều 74 BLLĐ 2019 quy định trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong thương lượng tập thể như sau:
“1. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng thương lượng tập thể cho các bên thương lượng tập thể.
- Xây dựng và cung cấp các thông tin, dữ liệu về kinh tế – xã hội, thị trường lao động, quan hệ lao động nhằm hỗ trợ, thúc đẩy thương lượng tập thể.
- Chủ động hoặc khi có yêu cầu của cả hai bên thương lượng tập thể, hỗ trợ các bên đạt được thỏa thuận trong quá trình thương lượng tập thể; trường hợp không có yêu cầu, việc chủ động hỗ trợ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ được tiến hành nếu được các bên đồng ý.
- Thành lập Hội đồng thương lượng tập thể khi có yêu cầu của các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp theo quy định tại Điều 73 của Bộ luật này”.
Nói tóm lại, BLLĐ 2019 đã có những tiến bộ hơn so với những BLLĐ trước đây. Lần sửa đổi BLLĐ mới nhất này đã tạo khung pháp luật hoàn thiện hơn cho quan hệ việc làm, điều kiện lao động và chức năng đại diện của người sử dụng lao động và người lao động. BLLD sửa đổi cũng đã chú trọng hơn tới việc thực hiện thương lượng tập thể tự nguyễn, một công cụ cần thiết đối với một nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình hội nhập toàn cầu sâu rộng.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 10.000 VNĐ (.docx)