THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 31 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0026.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận (Bài 1) 3 kien nghi va giai phap nham nang cao hieu qua ap dung ve che do tai san cua vo chong theo thoa thuan bai 1 3](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/kien-nghi-va-giai-phap-nham-nang-cao-hieu-qua-ap-dung-ve-che-do-tai-san-cua-vo-chong-theo-thoa-thuan-bai-1-3.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu đề tài | 1 |
| 3. Phạm vi nghiên cứu | 2 |
| 4. Phương pháp nghiên cứu | 2 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN | 3 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 3 |
| 1.1.1. Khái niệm | 3 |
| 1.1.2. Đặc điểm | 3 |
| 1.2. Chế độ tài sản theo thỏa thuận trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới | 5 |
| 1.2.1. Bỉ (Civil Law) | 5 |
| 1.2.2. Liên bang Úc (Common Law) | 7 |
| 1.3. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tế của chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Việt Nam | 8 |
| 1.3.1. Cơ sở lý luận | 8 |
| 1.3.2. Cơ sở thực tiễn | 8 |
| CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2014 | 9 |
| 2.1. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng | 9 |
| 2.1.1. Về hình thức | 9 |
| 2.1.2. Về nội dung | 10 |
| 2.2. Quy định về sửa đổi, bổ sung | 10 |
| 2.3. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng chấm dứt/ vô hiệu | 11 |
| 2.4. Hậu quả pháp lý của thỏa thuận khi chấm dứt quan hệ hôn nhân | 12 |
| 2.4.1. Về tài sản | 12 |
| 2.4.2. Về con cái | 13 |
| 2.4.3. Về nghĩa vụ tài chính | 13 |
| 2.5. Hệ quả pháp lý | 13 |
| CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN | 16 |
| 3.1. Thực tiễn thực hiện chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 16 |
| 3.1.1. Kết quả đạt được | 16 |
| 3.1.2. Hạn chế và bất cập | 17 |
| 3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 17 |
| 3.3.1. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 18 |
| 3.3.2. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 21 |
| KẾT LUẬN | 24 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 25 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cũng như các nước khác trên thế giới đã thừa nhận và áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, Việt Nam cũng thừa nhận quyền tự định đoạt đối với tài sản cá nhân. Tuy nhiên, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Nhà nước ta đặt ra nhiều hạn chế, trong đó chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản theo luật định mà không phải là theo thỏa thuận. Xác định rằng, cho phép vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận chính là góp phần đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt đối với tài sản của cá nhân. Chế độ tài sản của vợ chồng đã được Luật hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014 thừa nhận. Đây là một sự chuyển biến lớn về tư tưởng của nhà lập pháp Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng và là chủ đề được xã hội đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận vẫn là một vấn đề mới trong hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và vẫn còn những điểm chưa được tối ưu trong quá trình áp dụng. Chính vì vậy, nhóm 11 chúng em đã chọn đề tài “Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận” nhằm tìm hiểu sâu hơn về chế định này cũng như đáp ứng được tính cấp thiết của nó.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận nói riêng cũng như việc áp dụng chế định này vào thực tiễn, tiêu biểu như:
- Tìm hiểu về hôn ước và khả năng áp dụng hôn ước ở Việt Nam, Phạm Thị Linh Nhâm, Khóa luận tốt nghiệp, năm 2010;
- Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nguyễn Văn Cừ, Luận án Tiến sĩ Luật học, năm 2005;
- Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam, Lê Thị Hòa, Luận văn thạc sĩ luật học, năm 2016;
- Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng trong pháp luật Cộng hòa Pháp và pháp luật Việt Nam, Bùi Minh Hồng, Tạp chí Luật học, số 11 năm 2009
Song, việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều điểm cần hoàn thiện và sửa đổi. Do đó, cần nhiều hơn những công trình nghiên cứu như vậy để hoàn thiện hơn nữa chế định này.
3. Phạm vi nghiên cứu
Bài tiểu luận sẽ chủ yếu đi sâu tập trung nghiên cứu chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong phạm vi các quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành, đồng thời tìm hiểu về thực tiễn thực hiện chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận ở nước ta hiện nay thông qua các bản án, án lệ tiêu biểu để có thể đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận được nghiên cứu bằng sự kết hợp nhiều phương pháp như phân tích, đánh giá, tổng hợp, so sánh, thống kê,…
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN
1.1. Khái niệm và đặc điểm về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
1.1.1. Khái niệm
Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia sản giữa vợ và chồng.
Định nghĩa chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận: “Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là chế độ tài sản của vợ chồng xác lập theo thỏa thuận của vợ chồng bằng văn bản được lập từ trước khi kết hôn quy định về quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng, gồm: căn cứ, nguồn gốc xác lập tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với các loại tài sản đó và nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng”.
1.1.2. Đặc điểm
Luật hôn nhân và gia đình đã ghi nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thuộc chế độ tài sản của vợ chồng. Bởi vậy, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận có đầy đủ các đặc điểm của chế độ tài sản của vợ chồng:
Thứ nhất, chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp, các bên nam nữ phải có đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự và phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật về HN&GĐ.
Thứ hai, pháp luật quy định về chế độ tài sản của vợ chồng luôn hướng đến mục tiêu đảm bảo quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ, chồng.
Thứ ba, dù được thỏa thuận trước hôn nhân nhưng chế độ này chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân.
Thứ tư, chế độ tài sản của vợ chồng mang những đặc thù riêng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể.
Bên cạnh những đặc điểm nói chung, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận còn có những đặc điểm riêng:
Thứ nhất, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận do hai bên vợ chồng tự do thỏa thuận một cách tự nguyện, bình đẳng. Chính nhờ đặc điểm này mà chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận mang lại sự ưu việt hơn trong việc đảm bảo quyền tự định đoạt tài sản theo ý chí của cá nhân vợ, chồng.
Thứ hai, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận phải được lập thành văn bản trước khi kết hôn, tuy nhiên nó chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kỳ hôn nhân. Nếu như việc lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hoàn toàn không cần vợ, chồng thể hiện bằng ý chí (mặc nhiên thừa nhận nếu vợ, chồng không lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận), thì chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận chỉ được công nhận khi ý chí của các bên tham gia thỏa thuận được thể hiện rõ ràng bằng văn bản.
Thứ ba, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận có phần đề cao quyền lợi cá nhân của vợ, chồng hơn so với chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.
Thứ tư, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận có thể được sửa đổi, bổ sung trong thời kỳ hôn nhân. Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, nếu như chế độ tài sản pháp định mang tính ổn định cao trong suốt thời kỳ hôn nhân thì chế độ tài sản ước định lại có thể được thay đổi một hoặc nhiều lần.
Thứ năm, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận không bắt buộc phải được thiết lập mà do sự chủ động lựa chọn của các bên trước khi kết hôn, nó không làm hạn chế quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, không ảnh hưởng đến nghĩa vụ đối với con.
1.2. Chế độ tài sản theo thỏa thuận trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
1.2.1. Bỉ (Civil Law)
Giống với mô hình của Bộ luật dân sự Pháp, luật Bỉ cho phép vợ chồng có quyền tự do lựa chọn chế độ tài sản cho riêng mình. Trong trường hợp không có thỏa thuận đặc biệt, quan hệ tài sản giữa vợ, chồng sẽ đặt dưới chế độ tài sản luật định. Quy định này được nêu tại Điều 1390 BLDS Bỉ, “Trong trường hợp không có thỏa thuận đặc biệt giữa vợ chồng, các quy tắc được quy định tại Chương 2 phần này sẽ là luật chung để áp dụng” và Điều 1391 BLDS Bỉ “chế độ tài sản giữa vợ chồng, dù là chế độ luật định hay thỏa thuận, có hiệu lực tại thời điểm kết hôn, dù vợ chồng có thỏa thuận ngược lại”.
Tuy nhiên, kể cả khi vợ chồng đã lựa chọn chế độ tài sản luật định, họ vẫn có quyền lập hợp đồng hôn nhân để bổ sung vào chế độ luật định những thỏa thuận đặc biệt của họ (Điều 1451 BLDS Bỉ). Với chế độ tài sản thỏa thuận thiết lập theo hợp đồng hôn nhân, vợ chồng có một vài lựa chọn sau đây:
Thứ nhất, mô hình tài sản chung
Theo quy định tại Điều 1451 BLDS Bỉ, “Vợ chồng đã xác lập một chế độ cộng đồng tài sản (chế độ tài sản chung) thì không thể vi phạm các quy tắc của chế độ tài sản luật định có liên quan đến việc quản lý các tài sản riêng và chung của họ. Theo các quy định tại các Điều 1388 và 1389, họ có thể, theo hợp đồng hôn nhân, thực hiện bất kỳ thay đổi bổ sung nào vào chế độ tài sản luật định”. Quy định này gián tiếp thể hiện rằng, chế độ tài sản thiết lập theo các quy định của pháp luật xây dựng cho vợ chồng mô hình cộng đồng tài sản hay chế độ tài sản chung, cho phép công nhận hầu hết các tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.
Thứ hai, mô hình tài sản riêng
Theo Điều 1466 BLDS Bỉ: “Nếu vợ chồng đã thỏa thuận trong hợp đồng hôn nhân rằng mô hình tài sản giữa họ là mô hình tài sản riêng thì mỗi người sẽ có tất cả các quyền trong việc quản lý, hưởng dụng và định đoạt tài sản của mình mà không ảnh hưởng đến việc áp dụng các quy định tại Điều 215; các hoa lợi lợi tức cũng là tài sản riêng của mỗi bên”.
Không chỉ tồn tại theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng hôn nhân, mô hình này còn có thể được áp dụng trong trường hợp có phán quyết của tòa án. Điều 1470 BLDS Bỉ quy định: “Mỗi bên vợ chồng hoặc đại diện theo pháp luật của họ có thể kiện yêu cầu áp dụng mô hình quan hệ tài sản riêng khi mà xuất hiện tình trạng bừa bãi của bên vợ chồng còn lại trong hoạt động kinh doanh, việc quản lý yếu kém hoặc mất mát của cải của vợ chồng và rằng việc duy trì chế độ tài sản hiện hữu là nguy hiểm cho lợi ích của bên vợ, chồng đưa ra yêu cầu”.
Đặc biệt hơn, mô hình tài sản riêng giữa vợ, chồng còn được áp dụng trong việc “chung sống hợp pháp” giữa hai bên không phải là vợ chồng. Đây là trường hợp các bên chung sống như vợ chồng và thỏa mãn các điều kiện để kết hôn với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Việc sống chung này cũng làm phát sinh quan hệ thừa kế giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật. Đây là một điểm đáng lưu ý mà luật Việt Nam có thể học hỏi để áp dụng.
Thứ ba, mô hình tài sản chung hoàn toàn.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)