THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 21 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0089.
- Văn bản áp dụng: Luật Thuế thu nhập đặc biệt năm 2016.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt 2 phap luat ve thue tieu thu dac biet 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/phap-luat-ve-thue-tieu-thu-dac-biet-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT | 1 |
| 1.1. Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt | 1 |
| 1.2. Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt | 1 |
| 1.3. Vai trò của Thuế tiêu thụ đặc biệt | 2 |
| CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT TẠI VIỆT NAM | 4 |
| 2.1. Quy định pháp luật về Thuế tiêu thụ đặc biệt (Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt) | 4 |
| 2.2. Đối tượng chịu Thuế tiêu thụ đặc biệt | 4 |
| 2.3. Đối tượng không chịu Thuế tiêu thụ đặc biệt | 6 |
| 2.4. Đối tượng nộp thuế | 7 |
| 2.5. Thuế suất Thuế tiêu thụ đặc biệt | 8 |
| 2.6. Căn cứ tính thuế | 9 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT TẠI VIỆT NAM | 10 |
| 3.1. Thực trạng thực thi pháp luật | 10 |
| 3.1.1. Yếu tố khách quan | 10 |
| 3.1.2. Yếu tố từ phía các cơ quan Nhà nước | 10 |
| 3.2. Thành tựu đạt được trong quá trình thực thi pháp luật thuế TTĐB | 11 |
| 3.3. Những hạn chế còn tồn đọng trong công tác thực thi pháp luật Thuế tiêu thụ đặc biệt | 11 |
| 3.4. Kinh nghiệm trên thế giới và kiến nghị, đề xuất dành cho Việt Nam | 13 |
| 3.4.1. Kinh nghiệm trên thế giới về quản lý Thuế TTĐB | 13 |
| 3.4.2. Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt | 15 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 18 |
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
1.1. Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) là loại thuế được áp dụng hầu hết các quốc gia trên thế giới với các tên gọi khác nhau như: Thuỵ Điển là “thuế đặc biệt”, Pháp là “thuế tiêu dùng đặc biệt”, Trung Quốc là “thuế tiêu thụ”…Đối với Việt Nam, tiền thân của thuế TTĐB hiện hành là thuế hàng hoá được ban hành năm 1951. Loại thuế này đánh vào một số hàng hoá, dịch vụ nhằm điều tiết sản xuất và tiêu dùng của mỗi quốc gia.
Thuế TTĐB “là loại thuế đánh lên một số hàng hoá, dịch vụ đặc biệt nhằm hướng dẫn tiêu dùng xã hội và điều tiết một phần thu nhập của người nộp thuế vào ngân sách Nhà nước”.
Theo Luật thuế TTĐB, thuế TTĐB “là loại thuế thu vào hành vi sản xuất, nhập khẩu các mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và hành vi kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB”. Thuế được cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ.
1.2. Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt
Thứ nhất, Thuế TTĐB có tính chất gián thu thể hiện ở chỗ
Thuế TTĐB đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ chịu thuế TTĐB gián tiếp thông qua giá cả của hàng hoá, dịch vụ mà người đó tiêu dùng và người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB là người nộp thuế cho Nhà nước thay cho người tiêu dùng
Khoản thuế này được chuyển vào giá bán sản phẩm và chuyển sang cho người tiêu dùng cuối cùng phải gánh chịu.
Thứ hai, Thuế TTĐB là thuế tiêu dùng, có đối tượng chịu thuế hẹp, chỉ bao gồm một số hàng hoá, dịch vụ Nhà nước cần điều tiết
Đối tượng chịu thuế TTĐB chủ yếu là hàng hoá, dịch vụ có tính chất đặc biệt hoặc là loại xa xỉ phẩm có thể ảnh hưởng tiêu cực đến con người nhưng không thể cấm tiêu dùng như: rượu, bia, thuốc lá, ô tô, xăng, kinh doanh cá cược, đua ngựa, đua xe, sòng bạc,…
Thứ ba, Thuế TTĐB thường có mức thuế suất cao nhằm điều tiết sản xuất và hướng dẫn tiêu dùng hợp lý
Dưới góc độ điều tiết thu nhập của người có thu nhập cao khi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ xa xỉ, thuế TTĐB góp phần khắc phục hạn chế về công bằng theo chiều dọc của thuế giá trị gia tăng.
Thứ tư, Thuế TTĐB ở các nước cũng giống nhau, tức là Nhà nước chỉ thu một lần ở khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hay kinh doanh các dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB.
Khi hàng hoá dịch vụ này chuyển qua khâu lưu thông thì không phải chịu thuế TTĐB.
1.3. Vai trò của Thuế tiêu thụ đặc biệt
Thông qua chế độ thu thuế TTĐB, Nhà nước động viên một phần thu nhập đáng kể của người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước
Đặc thù các đối tượng chịu thuế là hàng hoá, dịch vụ đặc biệt hoặc xa xỉ phẩm cần điều tiết tiêu dùng, do đó mức thuế suất thuế TTĐB được đánh rất cao. Trung bình thuế TTĐB chiếm khoảng 15-18% tổng số thuế gián thu và chiếm 9-10% tổng số thuế và phí thu được hàng năm của Nhà nước.
Thuế TTĐB là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng hướng dẫn sản xuất và điều tiết tiêu dùng xã hội
Việc áp dụng thuế TTĐB nhằm hạn chế sản xuất, cung ứng một số hàng hoá dịch vụ có thể gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường, có hại cho sức khỏe người dân, ảnh hưởng đến sự phát triển của quốc gia về kinh tế, chính trị, xã hội. Vì vậy để thể hiện vai trò này, hầu hết các nước đều quy định thuế suất rất cao trong Luật Thuế TTĐB.
Việc ban hành Luật thuế TTĐB là công cụ đắc lực của Nhà nước giúp điều tiết tiêu dùng trong dân cư. Điều này thể hiện ở việc đăng ký, kê khai và nộp thuế là cơ sở quan trọng để Nhà nước quản lý, điều tiết những hàng hoá, dịch vụ nhạy cảm, tác động đến nền kinh tế – xã hội.
1.4. Mối liên hệ của Thuế tiêu thụ đặc biệt với các sắc thuế khác (Thuế xuất nhập khẩu, Thuế giá trị gia tăng)
Mối quan hệ của thuế TTĐB và thuế GTGT: Các hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB, khi lưu thông trên thị trường, tức là được chuyển qua khâu thương nghiệp thì các cơ sở kinh doanh các mặt hàng này không phải nộp thuế TTĐB nhưng phải nộp thuế giá trị gia tăng.
Mối quan hệ của thuế TTĐB và thuế nhập khẩu: Cơ sở nhập hàng hoá chịu thuế TTĐB phải nộp thuế TTĐB cùng với thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng theo từng lần nhập khẩu.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 50.000 VNĐ (.docx)