THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 20 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0030.
- Pháp luật áp dụng: Hiến pháp năm 2013.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Quy định về bảo hộ công dân và thực trạng bảo hộ công dân của Việt Nam ở nước ngoài 2 quy dinh ve bao ho cong dan va thuc trang bao ho cong dan cua viet nam o nuoc ngoai 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/quy-dinh-ve-bao-ho-cong-dan-va-thuc-trang-bao-ho-cong-dan-cua-viet-nam-o-nuoc-ngoai-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề tài | 1 |
| 2. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu | 1 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN | 2 |
| 1.1. Khái niệm bảo hộ công dân | 2 |
| 1.2. Đặc diểm bảo hộ công dân | 2 |
| 1.3. Vai trò, ý nghĩa của bảo hộ công dân | 3 |
| CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN | 5 |
| 2.1. Điều kiện bảo hộ công dân | 5 |
| 2.2. Thẩm quyền bảo hộ công dân | 5 |
| 2.3. Các biện pháp bảo hộ công dân | 7 |
| CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG BẢO HỘ CÔNG DÂN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI | 10 |
| 3.1. Những kết quả đạt được trong bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài | 10 |
| 3.2. Những hạn chế trong bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài | 11 |
| CHƯƠNG 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN CỦA VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI | 13 |
| 4.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ công dân của Việt Nam ở nước ngoài | 13 |
| 4.2. Giải pháp tăng cường hiệu quả bảo hộ công dân của Việt Nam ở nước ngoài | 13 |
| KẾT LUẬN | 16 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 17 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa như ngày nay, di cư quốc tế đã trở thành một trong những vấn đề lớn của thời đại. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều người di cư khi sinh sống tại quốc gia sở tại bị xâm hại về các quyền và lợi ích bởi cá nhân, tổ chức quốc gia này. Do đó, việc xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ là điều vô cùng cần thiết. Bảo hộ công dân là một trong những hoạt động được các quốc gia quan tâm trong đó có Việt Nam Nhận thấy được vấn đề trên, em xin lựa chọn đề tài sau để tìm hiểu một cách kĩ lưỡng về lí luận cũng như thực trạng bảo hộ công dân của Việt Nam ở nước ngoài, từ đó đưa ra một số kiến nghị về quy định trên: “Quy định về bảo hộ công dân và thực trạng bảo hộ công dân của Việt Nam ở nước ngoài”.
2. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về bảo hộ công dân, cụ thể là làm sáng tỏ khái niệm bảo hộ công dân, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của bảo hộ công dân. Bên cạnh đó phân tích những nội dung cơ bản trong pháp luật hiện hành về bảo hộ công dân. Từ đó đề xuất quan điểm, định hướng nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo hộ công dân đồng thời đưa ra giải pháp tăng cường hiệu quả bảo hộ công dân của Việt Nam ở nước ngoài.
Bài làm sử dụng phương pháp nghiên cứu: Phân tích tài liệu, so sánh và tổng hợp.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN
1.1. Khái niệm bảo hộ công dân
Bảo hộ công dân được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, Bảo hộ công dân là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài khi các quyền và lợi ích này bị xâm hại ở nước ngoài. Theo nghĩa rộng thì bảo hộ công dân bao gồm cả các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà nhà nước dành cho công dân của nước mình đang ở nước ngoài, kể cả trong trường hợp không có hành vi xâm hại nào tới các công dân của nước này.
Như vậy, bảo hộ công dân có thể bao gồm các hoạt động có tính chất công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính hoặc các hoạt động có tính giúp đỡ như trợ cấp tài chính cho công dân khi họ gặp khó khăn, phổ biến các thông tin cần thiết cho công dân nước mình tìm hiểu về nước mà họ dự định tới… vì nguyện vọng cá nhân cho đến các hoạt động có tính chất phức tạp hơn như hỏi thăm lãnh sự khi công dân bị bắt, bị giam hoặc tiến hành các hoạt động bảo vệ và đảm bảo cho công dân nước mình được hưởng những quyền lợi và lợi ích tối thiểu theo quy định của nước sở tại hoặc luật quốc tế.
1.2. Đặc diểm bảo hộ công dân
Thứ nhất, mục đích của hoạt động bảo hộ công dân không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích của công dân ở nước ngoài khi quyền và lợi ích này bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại mà còn nhằm giúp đỡ, hỗ trợ công dân ở nước ngoài khi họ rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Tình trạng khủng hoảng về kinh tế, bất ổn về chính trị của một số quốc gia trên thế giới dẫn đến những cuộc bạo động, kéo theo đó những người nước ngoài tại quốc gia sở tại rất có thể bị xâm hại về quyền và lợi ích hợp pháp.
Thứ hai, dưới góc độ pháp luật quốc tế, bảo hộ công dân chính là một trong những biểu hiện của việc quốc gia thực hiện chủ quyền của mình đối với công dân.
Chủ quyền là thuộc tính chính trị – pháp lý không thể tách rời của quốc gia. Quốc gia thực hiện chủ quyền của mình đối với công dân thông qua việc ban cấp quốc tịch cho công dân, tiến hành bảo hộ công dân ở nước ngoài… Quốc gia là chủ thể duy nhất có quyền ban cấp quốc tịch cho công dân và quốc tịch chính là cơ sở để một quốc gia tiến hành bảo hộ công dân.
Thứ ba, dưới góc độ pháp luật quốc gia, bảo hộ công dân là nghĩa vụ mà quốc gia phải thực hiện đối với công dân. Quốc tịch là cơ sở để các quốc gia tiến hành bảo hộ công dân mà quốc tịch là mối quan hệ pháp lý hai chiều, thể hiện sự quy thuộc của một cá nhân về một nhà nước nhất định tức là cá nhân sẽ nhận được các quyền lợi mà nhà nước và pháp luật nước này đảm bảo cho họ được thụ hưởng, đồng thời xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà nước đó đối với việc bảo vệ quyền lợi cho cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng dân cư của quốc gia mà họ là công dân, cũng như trong quan hệ quốc tế mà người đó tham gia nhân danh chính cá nhân họ .
Thứ tư, nguồn luật điều chỉnh hoạt động bảo hộ công dân chính là những quy định trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Bảo hộ công dân không chỉ là nghĩa vụ mà quốc gia phải thực hiện với công dân mà đây còn là một hoạt động thuộc chủ quyền của quốc gia. Do đó, khi quốc gia thực hiện bảo hộ công dân sẽ phải tuân thủ những quy định của pháp luật quốc gia về vấn đề này, không một quốc gia nào có quyền can thiệp.
1.3. Vai trò, ý nghĩa của bảo hộ công dân
Thứ nhất, đối với quốc gia, hoạt động bảo hộ công dân vừa là hoạt động mà quốc gia thực hiện chủ quyền của mình đối với công dân, vừa là nghĩa vụ mà quốc gia phải thực hiện đối với công dân. Bảo hộ công dân dựa trên cơ sở mối quan hệ về quốc tịch giữa một cá nhân với quốc gia mà người đó mang quốc tịch. Bên cạnh đó, pháp luật quốc gia đều quy định công dân được hưởng các quyền con người, đồng thời quốc gia có nghĩa vụ phải đảm bảo các quyền đó cho công dân. Vì vậy, khi những quyền này không được đảm bảo trên thực tế thì quốc gia phải tiến hành các hoạt động bảo hộ để bảo vệ, khôi phục những quyền lợi đó.
Thứ hai, đối với công dân, bảo hộ công dân là quyền mà họ được hưởng từ nhà nước. Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý hai chiều, quyền của nhà nước là nghĩa vụ của công dân, ngược lại quyền của công dân là nghĩa vụ của nhà nước. Do đó, khi bảo hộ công dân là nghĩa vụ của nhà nước đối với công dân thì đây là quyền mà công dân được hưởng từ nhà nước. Khi công dân có quyền và lợi ích bị xâm hại hoặc khi họ rơi vào hoàn cảnh khó khăn cần giúp đỡ, họ hoàn toàn có quyền đưa ra yêu cầu đối với nhà nước mà họ mang quốc tịch phải tiến hành các hoạt động bảo hộ công dân. Điều này cũng thể hiện mối liên kết chặt chẽ giữa công dân và nhà nước.
Thứ ba, thông qua hoạt động bảo hộ công dân, pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật quốc tế về quyền con người nói riêng cũng được thực thi triệt để hơn, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân hiệu quả hơn[1].
[1] Trần Thị Thu Thủy, Bảo hộ công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, 2014.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)