THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 46 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0093.
- Văn bản áp dụng: Hiến pháp năm 2013.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG
![[Tiểu luận 2024] Tìm hiểu về nhận thức và thực hiện pháp luật về quyền sống ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 2 tim hieu ve nhan thuc va thuc hien phap luat ve quyen song ghi nhan trong hien phap 2013 2](https://tieuluannganhluat.com/wp-content/uploads/2024/02/tim-hieu-ve-nhan-thuc-va-thuc-hien-phap-luat-ve-quyen-song-ghi-nhan-trong-hien-phap-2013-2.jpg)
MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG | 5 |
| 1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài. | 5 |
| 1.2. Nội dung pháp luật liên quan đến đề tài | 6 |
| 1.3. Nhận thức và thực hiện pháp luật liên quan đến đề tài. | 9 |
| 1.4. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu | 10 |
| CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ THỰC HIỆN CỦA SINH VIÊN LUẬT VỀ QUYỀN SỐNG ĐƯỢC GHI NHẬN TRONG HIẾN PHÁP NĂM 2013 | 11 |
| 1. Thực trạng nhận thức pháp luật về quyền sống ghi nhận trong Hiến pháp 2013 | 11 |
| 2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền sống ghi nhận trong Hiến pháp 2013 | 17 |
| 2.3. Mở rộng vấn đề: Về hình phạt tử hình và vấn đề an tử. | 24 |
| CHƯƠNG 3: NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỰ HẠN CHẾ TRONG NHẬN THỨC VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỐNG TRONG HIẾN PHÁP 2013 | 28 |
| CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỐNG | 31 |
| KẾT LUẬN | 35 |
| PHỤ LỤC | 36 |
| PHIẾU KHẢO SÁT | 36 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Quyền sống là một trong những quyền cơ bản, quan trọng nhất thuộc về con người. Dưới góc độ tự nhiên, quyền sống được coi là quyền tự nhiên mà mỗi con người kể từ sinh ra đã có. Dưới góc độ pháp luật, khi được Nhà nước thừa nhận, bảo đảm và tôn trọng; được quy định trong những văn bản pháp luật, đồng nghĩa với việc, nó tạo ra các quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể trong xã hội để đảm bảo thực hiện quyền này. Với vị trí là văn bản có hiệu lực cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, là luật gốc, luật mẹ và luật cơ bản thì Hiến pháp đã có những quy định về quyền sống của con người. Nhưng hiện nay, vẫn còn nhiều bất cập trong nhận thức cũng như thực hiện bảo vệ quyền sống, hậu quả dẫn đến sự thiếu sót trong nhận thức và thực hiện của mỗi cá nhân, của tập thể và của cả một quốc gia.
Nhìn nhận thực trạng về nhận thức và thực hiện quyền sống trong thực tế và tầm quan trọng của quyền sống được ghi nhận trong Hiến pháp, dựa trên mối quan hệ giữa pháp luật và xã hội học, nhóm 02 đã lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu về nhận thức và thực hiện pháp luật về quyền sống ghi nhận trong Hiến pháp 2013” để tiến hành nghiên cứu, thực hiện các biện pháp nghiên cứu xã hội học và đưa ra những kết luận về đề tài này. Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và khảo sát vẫn sẽ còn có nhiều thiếu sót, hạn chế, nhóm chúng em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô để hoàn thiện bài viết và giúp cho nhóm chúng em hiểu rõ và sâu sắc vấn đề này hơn, qua đó rút kinh nghiệm cho những bài tập lần sau.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện với mục đích phân tích, đánh giá thực trạng nhận thức và thực hiện pháp luật về quyền sống ghi nhận trong Hiến pháp 2013 của sinh viên luật trên địa bàn thành phố Hà Nội. Qua đó tìm ra nguyên nhân thiếu sót để đề ra biện pháp nâng cao nhận thức và thực hiện pháp luật về quyền sống ghi nhận trong Hiến pháp 2013 ở nước ta hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu: (i) Thu thập, tìm hiểu các quy định của pháp luật trong và ngoài nước về quyền sống ghi nhận trong Hiến pháp 2013; (ii) Khảo sát điều tra xã hội học trong phạm vi khoảng 100 phiếu đối với sinh viên luật trên địa bàn TP. Hà Nội về nhận thức và thực hiện pháp luật về quyền sống của người dân; (iii) Thống kê số liệu và đánh giá thực trạng nhận thức và thực hiện pháp luật của sinh viên; (iv) Tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó; (v) Đề xuất ra kiến nghị, giải pháp nâng cao nhận thức và thực hiện pháp luật về quyền sống đối với sinh viên Luật và đối với người dân.
3. Giả thuyết nghiên cứu
Cần đưa môn pháp luật về quyền sống được ghi nhận trong Hiến pháp thành một môn học bắt buộc đối với sinh viên Luật và là môn học tự chọn đối với sinh viên không phải chuyên ngành Luật.
Tăng cường chế tài xử phạt các hành vi vi phạm quyền sống.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chung: Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện, hoàn thiện báo cáo, nhóm chúng em sử dụng những phương pháp như: Phương pháp quan sát, phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu, phương pháp thống kê, phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu, hồ sơ, phương pháp trắc nghiệm.
Phương pháp thu thập thông tin:
Thứ nhất, phương pháp phỏng vấn: là phương pháp thu thập thông tin của người được phỏng vấn bằng hình thức trực tiếp. Những thông tin này thường được áp dụng đối với thông tin cá nhân và các ý kiến đối với các trường hợp câu hỏi là câu hỏi mở.
Thứ hai, phương pháp phân tích tài liệu:
Phân tích định tính: Là tìm ra những nội dung tư tưởng cơ bản của tài liệu, tìm ra những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu và xác định xem những vấn đề gì được giải quyết và những vấn đề gì chưa được giải quyết.
Phân tích định lượng: Là cách thức phân nhóm các dấu hiệu và tìm ra những mối quan hệ nhân quả giữa các nhóm chỉ báo. Phương pháp này được sử dụng trong những trường hợp phải xử lý một lượng thông tin lớn.
Thứ ba, phương pháp điều tra bảng hỏi cá nhân: là dùng một số câu hỏi nhất loạt đặt ra cho một số lượng lớn đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào đó. Sử dụng phương pháp này có thể trong một thời gian ngắn thu thập được một số ý kiến của nhiều người, nhưng là ý kiến chủ quan.
Thứ tư, phương pháp Anket: là phương pháp phỏng vấn trong đó người hỏi và người trả lời không trực tiếp gặp nhau mà chỉ tiếp xúc một cách gián tiếp thông qua bảng hỏi. Người được hỏi sau khi đã nhận được bảng hỏi tự mình điền câu trả lời vào bảng hỏi rồi gửi lại cho đơn vị điều tra. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong điều tra xã hội học.
5. Chọn mẫu điều tra
Mẫu trong điều tra xã hội học nói chung, khảo sát về một chủ đề pháp luật nói riêng là một bộ phận có thể đại diện được cho toàn bộ khách thể nghiên cứu. Chọn mẫu chính là quá trình sử dụng các phương pháp khác nhau nhằm tìm ra được một tập hợp các đơn vị (cá nhân, nhóm xã hội) mà những đặc trưng và cơ cấu được nghiên cứu của chúng có thể đại diện cho một tập hợp xã hội lớn hơn.
Phương pháp chọn mẫu: Có nhiều cách để chọn mẫu.
Với cách lấy ngẫu nhiên cơ bản, chúng ta cần có một danh sách liệt kê khai ngẫu nhiên các thành viên của tổng thể. Sau đó ta rút một cách ngẫu nhiên sao cho đủ số người cần thiết để tham gia đủ trả lời bảng câu hỏi. Với cách này, mọi thành viên đều có cơ hội như nhau để rơi vào mẫu.
Với cách hỏi ngẫu nhiên cơ học, có thể chọn mẫu bằng một thành viên bất kì trong danh sách đã đánh số thứ tự, sau đó cứ cách một khoảng K ta lại lấy một người theo công thức K=N/n trong đó N là số người của tổng thể, n là số người của mẫu, K là khoảng cách hai người được chọn theo danh sách liệt kê của tổng thể.
Chọn mẫu điều tra là các sinh viên trường đại học Luật Hà Nội khảo sát tìm hiểu nhận thức và thực hiện pháp luật về quyền sống của sinh viên Luật trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Điều tra mẫu là quá trình thu thập thông tin trên bộ phận mẫu đã lựa chọn sau đó suy rộng kết quả cho tổng thể với một độ chính xác nào đó.
– Người tham gia trả lời bảng câu hỏi: Sinh viên Luật trên địa bàn thành phố Hà Nội.
– Số lượng phiếu phát ra, thu về: Phát ra là 100 phiếu bao gồm 90 phiếu online và 20 phiếu offline, thu về 100 phiếu bao gồm 85 phiếu online và 15 phiếu offline.
Cách thức xử lý thông tin: Tập hợp kết quả thu về. Lập sơ đồ logic để xử lý thông tin. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu, phân tích và xử lý số liệu để xác thật giả thuyết đề ra. Lập biểu đồ, bảng hiển thị kết quả đã phân tích.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài.
Để tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đề tài: Nhận thức và thực hiện pháp luật về quyền sống ghi nhận trong Hiến pháp 2013 cần giải thích các khái niệm liên quan đến đề tài thực hiện. Trong nội dung phần 1 nhóm 02 sẽ trình bày những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến khái niệm có trong đề tài: Hiến pháp 2013; Quyền sống; Nhận thức pháp luật; Thực hiện pháp luật.
Khái niệm Hiến pháp: là văn bản pháp lý cao nhất, cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, ghi nhận những vấn đề cơ bản và quan trọng của đất nước như chế độ chính trị, bản chất nhà nước, văn hóa xã hội, quyền con người, quyền công dân…
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Hiến pháp 2013) là bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XIII thông qua vào ngày 28 tháng 11 năm 2013, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Hiến pháp 2013 bao gồm 11 chương và 120 điều quy định các vấn đề chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; Kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường; tổ chức hệ thống cơ quan nhà nước; …
Khái niệm quyền sống (the right to life): quyền sống là một quyền tự nhiên, vốn có, cơ bản của con người được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quan trọng của pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia.
Khái niệm nhận thức (cognition): Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin thì nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo trên cơ sở thực tiễn. (Ngoài ra còn có định nghĩa là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các quy trình như là tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lí luận, sự tính toán, việc giải quyết vấn đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ)
Khái niệm thực hiện pháp luật: Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống trở thành hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
Thực hiện pháp luật được tiến hành thông qua các hình thức khác nhau, bao gồm 4 hình thức cơ bản đó là: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật
Tuân thủ pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm
Chấp hành pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực.
Sử dụng pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện các quyền, tự do pháp lý của mình.
Áp dụng pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện các quy định pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể.
1.2. Nội dung pháp luật liên quan đến đề tài
Điều 3 Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền (UDHR) năm 1948.
Điều 6 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự, chính trị (ICCPR).
Điều 19 Hiến pháp 2013.
Chương XIV Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Điều 70, 71, 111 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Quyền sống hay quyền được sống hay quyền sinh sống là một trong những quyền cơ bản của con người. Lần đầu tiên chính thức khẳng định quyền này như là một tiêu chuẩn pháp lý quốc tế trong Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền (UDHR) năm 1948: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân”; Khoản 1 Điều 6 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự, chính trị (ICCPR) cụ thể hóa Điều 3 UDHR, trong đó nêu rằng: “Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện”. Cụm từ: Quyền sống lần đầu tiên được nhắc đến một cách chính thức trong Hiến pháp 2013.
Cụ thể, tại Điều 19 Hiến pháp 2013 có khẳng định: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”.
Quyền sống (the right to life) có thể được hiểu là quyền được sinh sống của mỗi người. Tính mạng của con người được pháp luật bảo hộ có nghĩa là việc tạo ra các quyền và nghĩa vụ yêu cầu các cá nhân, tổ chức khác và Nhà nước về việc bảo vệ tính mạng và sự sống cho một cá nhân, ngăn chặn những hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, tạo điều kiện, cơ sở cho sự phát triển ổn định của con người.
Có thể thấy, quyền sống quy định trong Hiến pháp năm 2013 đồng nghĩa với việc ràng buộc nghĩa vụ của Nhà nước phải bảo vệ sự sống của con người mọi lúc, mọi nơi và chỉ có thể bị hạn chế trong một số trường hợp cần thiết theo Luật định. Trên cơ sở của Hiến pháp, việc bảo vệ quyền sống tạo tiền đề cho quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm… của mỗi người, được quy định trong nhiều lĩnh vực khác nhau: Hình sự, Hành chính, Hôn nhân gia đình, Trẻ em…
Trong lĩnh vực pháp luật hình sự, tại chương XIV Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, danh dự con người, là nhóm tội xâm phạm đến quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe của cá nhân. BLHS đã quy định một số tội phạm xâm phạm đến tính mạng con người như: Tội giết người (Điều 123); Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124); Tội vô ý làm chết người (Điều 128)… những tội phạm loại này xâm phạm trực tiếp đến tính mạng con người, có hình phạt cao nhất lên đến chung thân hoặc tử hình… Trên cơ sở bảo vệ tính mạng con người thì bảo vệ sức khỏe của con người cũng được xây dựng: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134) với dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng khi gây hậu quả chết người… Ngoài ra dấu hiệu làm chết người còn được coi là tình tiết tăng nặng, định khung hình phạt tăng nặng ở một số tội phạm loại khác mà khách thể trực tiếp của tội phạm không phải là tính mạng, sức khỏe của con người (Ví dụ Tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại Điều 192 có quy định dấu hiệu định khung tăng nặng tại Điểm g Khoản 2 là Làm chết người).
Dưới cơ sở quy định của Hiến pháp: “Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Hiện nay, hình phạt tử hình vẫn đang được áp dụng tại Việt Nam, căn cứ Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về những trường hợp áp dụng hình phạt tử hình (là hình phạt tước đoạt tính mạng của người phạm tội). Khoản 1 Điều 40 BLHS 2015 quy định: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định”.
Hình phạt tử hình không được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử (Khoản 2 Điều 40 BLHS 2015) và các trường hợp quy định về việc không thi hành án tử hình khác được quy định tại điều 40 BLHS 2015.
Trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân gia đình, pháp luật về trẻ em, các lĩnh vực xã hội (y tế, giáo dục…): Trên thực tế, để thực hiện quyền sống của con người không chỉ là việc “giữ” tính mạng của một cá nhân mà nó còn là việc thực hiện các biện pháp xã hội tạo điều kiện và các yếu tố cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của một cá nhân cả về mặt thể chất và tinh thần. Dựa trên mối quan hệ đặc biệt giữa những thành viên trong gia đình là quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng, pháp luật Việt Nam đặt ra những quyền và nghĩa vụ đối những thành viên trong gia đình:
Điều 70 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì có quyền sống chung với cha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc. Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi và không trái với quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”.
Nghĩa vụ nuôi dưỡng của con cái đối với cha, mẹ được quy định tại Điều 71, Điều 111 Luật Hôn nhân gia đình 2014, cụ thể: “Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình…”
Nhà nước, tổ chức, cá nhân đều có nghĩa vụ trong việc tôn trọng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của chính mình và cá nhân khác. Nhà nước đã có những chính sách về an sinh xã hội như y tế, giáo dục, thực thi những biện pháp, cả thụ động và chủ động, để bảo đảm cuộc sống của người dân, đặc biệt là của những nhóm yếu thế, ví dụ như để làm giảm tỷ lệ chết ở trẻ em, xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng và các dịch bệnh…
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
TẢI VỀ
Vui lòng tải về để xem toàn bộ nội dung của tài liệu!
Bấm thanh toán & Tải về: 100.000 VNĐ (.docx)