THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 23 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0140.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| Mục lục | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: PHÂN TÍCH CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH | 2 |
| 1.1. Khái niệm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh | 2 |
| 1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh | 3 |
| 1.2.1. Khách thể của tội phạm | 3 |
| 1.2.2. Mặt khách quan của tội phạm | 3 |
| 1.2.3. Mặt chủ quan của tội phạm [1, 2] | 9 |
| 1.2.4. Chủ thể của tội phạm [2] | 10 |
| CHƯƠNG II: PHÂN BIỆT TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG | 12 |
| CHƯƠNG III: MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮT TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT | 15 |
| 3.1. Một số khó khăn, vướng mắt trong thực tiễn áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh [2] | 15 |
| 3.2. Một số giải pháp nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắt trong thực tiễn áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh [2] | 17 |
| KẾT LUẬN | 19 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 20 |
LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển con người chúng ta cũng ngày càng phát triển theo xu hướng tích cực hơn. Tuy nhiên có một điều đáng bàn là tình hình tội phạm ở nước ta cũng đang ngày càng có xu hướng gia tăng. Đa số các tội phạm hiện nay được quy định trong bộ luật hình sự thì nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ người phạm tội. Tuy nhiên có một số tội mà hành vi trái pháp luật của nạn nhân là cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu của loại tội này. Trong số đó có tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Trên thực tế hiện nay cho thấy đã có nhiều vụ án gây ra những cái chết thương tâm mà nguyên nhân xuất phát từ hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân. Tuy nhiên, nhiều vụ án trên thực tế hiện nay ta thấy được rằng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh xảy ra có nhiều điểm tương đồng với một số tội nằm trong chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người đều này gây ra những khó khăn trong việc giải quyết các vụ án xảy ra trên thực tế do đó mà việc phân tích kĩ càng, nghiêm túc về tội danh này sẽ là thông tin khá hữu ích trong quá trình định tội. Từ đó để tìm hiểu kỹ hơn về các dấu hiệu pháp lý của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và đồng thời qua việc nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của loại tội này để từ đó giúp phân biệt với một số tội có những nét tương đồng, gây khó khăn nhầm lẫn trong quá trình áp dụng. Chính vì những lẽ trên em xin phép được lựa chọn đề tài: “Phân tích tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh? phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng? Nêu một số khó khăn, vướng mắt trong thực tiễn áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và hướng giải quyết?.
CHƯƠNG I: PHÂN TÍCH CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH
* Cơ sở pháp lý: Điều 125 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
1.1. Khái niệm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trường hợp đặc biệt của tội giết người, do đó để tìm hiểu rõ về khái niệm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 Bộ luật hình sự 2015) thì trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu về khái niệm tội giết người.
Về khái niệm giết người thì hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể: [1]
Theo bản chuyên đề tổng kết xét xử loại tội giết người ban hành kèm theo công văn số 452-HS2 ngày 10 tháng 8 năm 1970 của Tòa án nhân dân tối cao thì: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật”.
Tuy nhiên cũng có quan điểm khác cho rằng: “Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện”.
Trong khi đó giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm được quy định trong Bộ luật hình sự 2015. Đây là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng sức khỏe của con người.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 125 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có thể hiểu: “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật trong tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế hành vi phạm tội của mình do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội”.
1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
1.2.1. Khách thể của tội phạm
Trước hết khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại.
Đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trong những hành vi xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của con người, đến quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác từ đó có thể xác định khách thể của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đó là quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người. Đây là một trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ.
Về đối tượng tác động của tội phạm: Cũng như tội giết người, đối tượng tác động của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là chủ thể của các quan hệ xã hội. Đó là những người đang sống, những người đang tồn tại trong thế giới khách quan. Cụ thể là người phạm tội đã trực tiếp xâm phạm và lấy đi tính mạng của người đã có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người phạm tội. [2].
1.2.2. Mặt khách quan của tội phạm
Cũng như các tội phạm khác được quy định trong Bộ luật hình sự khi được thực hiện đều có những biểu hiện ra bên ngoài hoặc tồn tại ra bên ngoài thế giới khách quan mà qua đó con người có thể nhận biết được. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh cũng có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại ở ngoài thế giới khách quan, đó là:
Thứ nhất, hành vi khách quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh: [1,2]
Trước hết hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của con người gây ra hoặc đe dọa gây ra cho xã hội, hành vi phạm tội được thực hiện qua hai hình thức đó là bằng hành động hoặc không hành động.
Theo quy định tại Điều 125 Bộ luật hình sự năm 2015 thì hành vi khách quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội.
Ở đây chúng ta cần phải xác định được thế nào là trường hợp một người bị kích động mạnh về tinh thần. Cụ thể theo quy định tại Điều 125 Bộ luật Hình sự 2015 để xác định trường hợp người phạm tội bị kích động mạnh về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại gây ra phải căn cứ vào các yếu tố: [3]
Một là, phải có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân.
Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân, trước hết bao gồm những hành vi vi phạm pháp luật hình sự xâm phạm đến lợi ích của người phạm tội hoặc đối với những người thân thích của người phạm tội. Thông thường những hành vi trái pháp luật của nạn nhân xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người phạm tội và những người thân thích của người phạm tội, nhưng cũng có một số trường hợp xâm phạm đến tài sản của người phạm tội như: đập phá tài sản, đốt cháy, cướp giật, trộm cắp… Việc xác định hành vi trái pháp luật của nạn nhân đã tới mức nghiêm trọng hay chưa cũng phải đánh giá một cách toàn diện. Có hành vi chỉ xảy ra một lần đã là nghiêm trọng, nhưng cũng có hành vi nếu chỉ xảy ra một lần thì chưa nghiêm trọng, nhưng nó được lặp đi lặp lại nhiều lần thì lại thành nghiêm trọng. Trong trường hợp này nạn nhân phải bị chết thì người thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng của nạn nhân mới cấu thành “tội giết người trong trạng thái tình thần bị kích động mạnh”.
Hai là, Hành vi trái pháp luật của người bị hại phải là hành vi đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích hoặc hoặc đối với người khác có quan hệ thân thiết với người phạm tội.
Ở đây những người thân thích là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân như: vợ đối với chồng; cha mẹ với con cái; anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ đối với nhau; ông bà nội ngoại đối với các cháu… Trong thực tiễn xét xử Tòa án cũng đã công nhận một số trường hợp tuy không phải là quan hệ huyết thống hay quan hệ hôn nhân mà chỉ là quan hệ thân thuộc cũng được xác định là người thân thích của nhau ví dụ như mối quan hệ giữa con rể với bố mẹ vợ.
Ba là, Hành vi trái pháp luật của người bị hại phải là nguyên nhân làm cho người phạm tội bị kích động mạnh về tinh thần.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với tinh thần bị kích động mạnh là mối quan hệ tất yếu nội tại có cái này thì ắt sẽ có cái kia. Nếu như không có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân thì không có tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội và do vậy nếu người phạm tội không bị kích động mạnh bởi hành vi trái pháp luật của người khác thì không thuộc trường hợp phạm tội này.
Vấn đề về trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong Bộ luật hình sự đã được hướng dẫn lần đầu tiên tại Điểm b Mục 1 Chương 2 Nghị quyết số 04/HĐTP/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, theo đó: “Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình” [4]. Do vậy lúc đó họ mất khả năng tự chủ và không thấy hết được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình. Trạng thái tinh thần này của họ chỉ xảy ra trong chốc lát. Người phạm tội khi thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thường xuất hiện các cơn bùng phát về tinh thần, thường biểu hiện ở các trạng thái tâm lý như: quá lo sợ, quá hốt hoảng, quá kinh hãi, quá căm tức, phẫn nộ.
Sự kích động mạnh đó có thể là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người [2]. Ví dụ: do có mâu thuẫn từ trước trong việc làm ăn nên T và D chặn xe của vợ chồng N khi họ đang trên đường về nhà, T khống chế N còn D đẩy vợ N từ trên xe xuống và liên tiếp đạp vào bụng vợ N dù N có thông báo là vợ mình đang mang thai và xin D dừng lại. D vẫn đánh vợ N cho đến khi thấy vợ N bị chảy máu thì dừng và ra hiệu cho T đi về. khi T và D chuẩn bị lên xe đi về thì N cầm được hòn đá ven đường chạy đến đập liên tiếp vào đầu D. Kết quả D bị chấn thương sọ não và chết ngay sau đó. Hành vi phạm tội của N được thực hiện do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của D, mặc dù biết vợ N đang mang thai nhưng D vẫn cố tình đánh và đạp vào bụng vợ N khiến cho tinh thần của N bị kích động mạnh và trong tức thời N đã không điều khiển, kiềm chế được hành vi của mình và gây ra cái chết của D.
Ngoài ra sự kích động mạnh đó có thể do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, sự kích động đó đã âm ỉ, kéo dài, có tính lặp đi lặp lại trong suốt thời gian dài và liên tiếp tác động đến tinh thần của người phạm tội làm cho họ bị dồn nén về mặt tâm lý. Đến thời điểm nào đó, khi có hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động mạnh, không tự kiềm chế được. Trong trường hợp này, nếu chỉ xét hành vi cụ thể ngay liền trước trạng thái tinh thần bị kích động mạnh sẽ không thấy được hành vi trái pháp luật của nạn nhân. Ví dụ: G và H nhà ở cạnh nhau, chung một bức tường. H đục tường từ phía nhà mình sang nhà G trong lúc vợ của H đang bị ốm nặng cần sự yên tĩnh. G đã nhiều lần yêu cầu H chấm dứt hành động đó, nhưng H không nghe, G bực tức giằng búa của H đánh H một cái làm H ngã gục. Trên đường đưa đi cấp cứu thì H chết. [5,6]
Như vậy, rõ ràng không phải tự nhiên mà tinh thần của người phạm tội bị kích động khi không có một yếu tố nào tác động và họ cũng không thể tự tạo được cho mình trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Chính những hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân mới chính là nguyên nhân dẫn đến trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ở người phạm tội. Tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân là một căn cứ để xem xét tinh thần của người phạm tội có bị kích động mạnh hay không.
Trường hợp người phạm tội có bị kích động về tinh thần nhưng chưa tới mức mất khả năng tự chủ thì không gọi là bị kích động mạnh và không thuộc trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Tuy nhiên họ được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 [7].
Việc xác định một người có bị kích động mạnh về tinh thần hay không là một vấn đề phức tạp. Bởi vì trạng thái tâm lý của mỗi người khác nhau, cùng một sự việc nhưng người này xử sự khác người kia; có người bị kích động về tinh thần, thậm chí “điên lên”, nhưng cũng có người vẫn bình thường, thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Và cách xử sự của mỗi người cũng rất khác nhau….
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/toi-giet-nguoi-trong-trang-trang-tinh-than-bi-kich-dong-manh/
[xyz-ihs snippet=”B0140″]
