THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 13 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0178.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM | 2 |
| 1.1. Khái niệm “nạn nhân của tội phạm” | 2 |
| 1.2. Vai trò của nạn nhân của tội phạm trong cơ chế hình thành tội phạm | 2 |
| CHƯƠNG II: CÁC YẾU TỐ CÓ VAI TRÒ LÀM TĂNG NGUY CƠ TRỞ THÀNH NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM | 4 |
| 2.1. Các yếu tố thuộc về cá nhân con người | 4 |
| 2.2. Các yếu tố khách quan | 4 |
| CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP LÀM GIẢM THIỂU NGUY CƠ TRỞ THÀNH NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM | 6 |
| 3.1. Hạn chế hay loại trừ các yếu tố thuộc về cá nhân con người | 6 |
| 3.2. Hạn chế và loại trừ các nguyên nhân khách quan | 7 |
| KẾT LUẬN | 9 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 10 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại xã hội phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội thì tệ nạn xã hội, tình hình tội phạm cũng không ngừng gia tăng và diễn biến phức tạp. Và nhiều người với những thói quen, lối sống, cách cư xử cũng như những đặc điểm tâm sinh lí, thể chất, tinh thần cộng với một số điều kiện thuận lợi từ bên ngoài đã tạo môi trường thuận lợi cho người khác thực hiện hành vi phạm tội và khiến họ dễ dàng trở thành nạn nhân của tội phạm. Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp thì nạn nhân đều là yếu tố khiến cho tình hình tội phạm diễn ra mà chúng ta cần phải xem xét về mối quan hệ giữa nạn nhân với tội phạm bởi vì trong nhiều trường hợp thì nạn nhân cũng chính là yếu tố triệt tiêu tình hình tội phạm cũng như là nguyên nhân khiến cho hành vi phạm tội không thể xảy ra. Vì vậy, nghiên cứu về tình hình tội phạm cũng là một trong những yếu tố quan trọng để xác định được loại tội phạm, nguyên nhân phạm tội cũng như thuận tiện hơn trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố… nhận thấy được tầm quan trọng của nạn nhân trong việc hình thành nên hành vi phạm tội nên em xin được chọn đề tài “Trình bày những yếu tố có vai trò làm tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm. Theo anh/chị, cần phải thực hiện những giải pháp nào để giảm thiểu nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm”.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM
1.1. Khái niệm “nạn nhân của tội phạm”
Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức phải chịu những hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác mà những hậu quả thiệt hại này là do hành vi phạm tội trược tiếp gây ra[1].
Định nghĩa này xác định nạn nhân của tội phạm có ba đặc điểm:
– Nạn nhân của tội phạm có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
– Nạn nhân của tội phạm có thể chịu thiệt hai về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp.
– Hậu quả thiệt hại mà nạn nhân của tội phạm phải gánh chịu phải là những hậu quả trực tiếp do hành vi gây ra. Điều đó có nghĩa giữa hành vi phạm tội và hậu quả thiệt hại phải có mối quan hệ nhân quả với nhau. Thiệt hại mà nạn nhân phải gánh chịu phải là hậu quả trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra và ngược lại, hành vi phạm tội phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả thiệt hại cho nạn nhân.
1.2. Vai trò của nạn nhân của tội phạm trong cơ chế hình thành tội phạm
Khi đánh giá về vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội, không nên quan niệm sai lầm cho rằng trong các vụ án hình sự, do nạn nhân có lỗi nên mới xảy ra hành vi phạm tội. Trong một số trường hợp, vai trò của nạn nhân là nguyên nhân làm phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm được thực hiện. Có thể nêu một số trường hợp làm phát sinh, thúc đẩy tội phạm được thực hiện có liên quan đến nạn nhân như:
+ Nạn nhân thiếu hiểu biết, nhận thức hạn chế;
+ Sự phô trương tài sản hoặc mất cánh giác, sơ hở trong bảo vệ tài sản;
+ Tính hám lợi hoặc tính phản trắc, bội bạc của nạn nhân;
+ Khả năng tự bảo vệ bản thân của nạn nhân còn hạn chế;
+ Sự dễ dãi hoặc quá tự tin với an ninh của bản thân;
+ Nạn nhân có lối sống vô đạo đức hoặc có hành vi trái pháp luật.
Ví dụ: Nạn nhân đã có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội; hành vi này đã thúc đẩy người phạm tội rơi vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dẫn đến người phạm tội có hành vi giết người hoặc trường hợp có người do tham lam nên đã dễ dàng trở thành nạn nhân của vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc trường hợp có người do phô trương, khoe khoang tài sản quá mức nên đã trở thành nạn nhân của vụ cướp giật tài sản…
[1] Giáo trình Tội phạm học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019, Trang 170.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/yeu-to-co-vai-tro-lam-tang-nguy-co-tro-thanh-nan-nhan-cua-toi-pham/
[xyz-ihs snippet=”B0178″]
