THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Kiểm sát Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 39 trang (cả bìa)
- Năm: 2022 / Mã số: B0122.
- Pháp luật áp dụng: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| PHẦN MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN | 2 |
| 1.1. Khái niệm, ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự | 2 |
| 1.2. Khái quát chung về hoãn phiên tòa sơ thẩm dân sự | 3 |
| 1.2.1. Khái niệm | 3 |
| 1.2.2. Ý nghĩa | 3 |
| 2.3. Một số điểm mới cơ bản về hoãn phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 | 3 |
| CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ HOÃN PHIÊN TÒA SƠ THẨM DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 | 6 |
| 2.1. Các trường hợp hoãn phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự | 6 |
| 2.1.1. Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án tại phiên tòa (khoản 2 Điều 56) | 6 |
| 2.1.2. Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa (khoản 2 Điều 62) | 9 |
| 2.1.3. Trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên dịch tại phiên tòa (khoản 2 Điều 84) | 11 |
| 2.1.4. Sự vắng mặt của đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ (Điều 227) | 13 |
| 2.1.5. Người làm chứng vắng mặt (khoản 2 Điều 229) | 15 |
| 2.1.6. Người giám định vắng mặt (khoản 2 Điều 230) | 16 |
| 2.1.7. Người phiên dịch vắng mặt (khoản 2 Điều 231) | 17 |
| 2.1.8. Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt mà không thuộc các trường hợp nêu trên (Điều 241) | 17 |
| 2.2. Thời hạn hoãn phiên tòa | 18 |
| 2.3. Quyết định hoãn phiên tòa | 19 |
| 2.3.1. Thời điểm ban hành quyết định hoãn phiên tòa | 19 |
| 2.3.2. Thẩm quyền hoãn phiên tòa | 19 |
| 2.3.3. Hình thức của quyết định hoãn phiên tòa | 19 |
| 2.3.4. Nội dung của quyết định hoãn phiên tòa | 19 |
| 2.3.5. Thủ tục cần thực hiện để hoãn phiên tòa | 20 |
| 2.4. Hoãn phiên tòa dân sự nói chung đối với các phiên tòa có yếu tố nước ngoài | 20 |
| CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ HOÃN PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP | 22 |
| 3.1. Thực trạng của việc hoãn phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự | 22 |
| 3.2. Một số bất cập | 25 |
| 3.3. Đề xuất giải pháp | 28 |
| KẾT LUẬN | 32 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 33 |
LỜI MỞ ĐẦU
Khi một vụ án dân sự được đưa ra xét xử, tất yếu vụ án này phải trải qua xét xử sơ thẩm trước khi có các căn cứ khác để kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hay theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Nếu không có các căn cứ này, việc giải quyết vụ án dân sự được xem như kết thúc sau phiên tòa sơ thẩm. Do đó, để quyết định của Tòa án được đúng đắn, công bằng với các bên liên quan và phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, việc tổ chức xét xử sơ thẩm phải tuyệt đối tuân thủ các quy định của pháp luật, trong đó có hệ thống các nguyên tắc nói chung và nguyên tắc riêng đối với phiên tòa sơ thẩm. Để việc xét xử được thuận lợi thì sau khi mở phiên tòa, phiên tòa nên được diễn ra ngay, đồng thời phải liên tục, không gián đoạn, tuy nhiên trong một số trường hợp, để đảm bảo tốt nhất quyền lợi của các đương sự và những người liên quan trong việc giải quyết vụ án dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự cho phép được “hoãn phiên tòa”.
Tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quy định về hoãn phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự được đưa ra trên cơ sở tiếp tục bổ sung, kế thừa những quy định từ các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự trước đó. Việc hoãn phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành khi đáp ứng được các điều kiện mà Bộ luật quy định, từ căn cứ hoãn phiên tòa, thời hạn hoãn phiên tòa, thẩm quyền, nội dung và hình thức của quyết định hoãn phiên tòa. Mặc dù quy định khá rõ ràng và đầy đủ, thế nhưng trong quá trình áp dụng vẫn sẽ bộc lộ ra một số bất cập, hạn chế cần những nhà làm luật tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện thêm. Vì các lý do trên, tại tiểu luận này, em sẽ phân tích “Vấn đề hoãn phiên tòa sơ thẩm dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”. Đồng thời, tại phần sau của tiểu luận, dựa trên thực trạng áp dụng các quy định có liên quan ở vấn đề này, em xin chỉ ra một số bất cập, từ đó đề xuất giải pháp để khắc phục những hạn chế đã nêu và góp phần hoàn thiện quy định về hoãn phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự nói riêng và Bộ luật Tố tụng dân sự nói chung.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự
Về khái niệm, phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự là phiên xét xử vụ án dân sự lần đầu của Tòa án.[23]
Các vụ án dân sự nếu đã phải đưa ra xét xử thì đều phải trải qua việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa này, thay vì chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản như đối với hòa giải, Tòa án sẽ phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án. Với tính chất như trên, phiên tòa sơ thẩm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết vụ án dân sự. Các vấn đề của vụ án, việc xác định quyền và nghĩa vụ của các đương sự đều được xem xét tại phiên toà sơ thẩm, và nếu không có kháng cáo, kháng nghị, việc giải quyết vụ án dân sự xem như kết thúc.
Bên cạnh đó, phiên tòa sơ thẩm cũng là nơi Tòa án thực hiện việc giáo dục pháp luật. Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Tòa án, thông qua hoạt động xét xử tại phiên tòa cũng là một trong những cách để phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật đối với người dân. Bởi lẽ, nó giúp cho những người tham dự phiên tòa hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của chính họ và của cộng đồng.[23]
Nhìn chung, việc tổ chức xét xử tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định. Bên cạnh các nguyên tắc chung của tố tụng dân sự quy định từ Điều 3 đến Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phiên tòa dân sự sơ thẩm phải được tiến hành theo phương thức xét xử trực tiếp, bằng lời nói (Điều 225 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015), phải được tiến hành liên tục trừ các trường hợp được quy định trong bộ luật này. Ngoài ra, sự có mặt của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng rất cần thiết. Dựa trên các nguyên tắc này, trong một số trường hợp nhất định, nếu như việc xét xử diễn ra sẽ gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các bên trong vụ án dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự cho phép được “hoãn phiên tòa”.
1.2. Khái quát chung về hoãn phiên tòa sơ thẩm dân sự
1.2.1. Khái niệm
Hoãn phiên tòa được hiểu là việc không tiến hành xét xử vì một số lý do nhằm đảm bảo việc xét xử được khách quan, công bằng. Việc hoàn phiên tòa này chỉ trong một thời gian nhất định, sau khoảng thời gian đó sẽ tiến hành xét xử.
1.2.2. Ý nghĩa
Việc quy định về hoãn phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa đối với cả người tham gia tố tụng và cơ quan, người tiến hành tố tụng.
Thứ nhất, đối với các đương sự, việc hoãn phiên tòa được thực hiện trong trường hợp có sự thay đổi hoặc vắng mặt của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, những người có liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự. Việc mở lại phiên tòa sau khi đã đáp ứng đủ các quy định của pháp luật giúp tạo thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án.
Thứ hai, đối với Tòa án và Viện kiểm sát, việc hoãn phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự giúp có thêm thời gian để bổ sung những khuyết thiếu của phiên tòa, mà những khuyết thiếu này có thể trở thành lý do cản trở hay làm ảnh hưởng tới quyết định cuối cùng của Tòa án. Bởi phiên tòa sơ thẩm mang tính chất là phiên tòa đầu tiên mà mọi vụ án đều phải trải qua, ở đó sẽ giải quyết các vấn đề được đề cập một cách toàn diện. Qua đó, giúp các cơ quan này thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình, các phán quyết được đưa ra đảm bảo tính công bằng cho các bên trong vụ án dân sự.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
https://shop.tieuluannganhluat.com/san-pham/van-de-hoan-phien-toa-so-tham-dan-su-theo-quy-dinh-cua-blttds-nam-2015/
[xyz-ihs snippet=”B0122″]
