THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 17 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0096.
- Văn bản áp dụng: Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Phá sản năm 2014.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN NỢ ĐẾN HẠN SAU KHI CÓ QUYẾT ĐỊNH MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH | 2 |
| 1.1. Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán | 2 |
| 1.2. Khái niệm và đặc điểm tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán | 3 |
| 1.3. Khái niệm và đặc điểm quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán | 5 |
| CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN SAU KHI CÓ QUYẾT ĐỊNH MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH | 7 |
| LIÊN HỆ 01 VỤ VIỆC CỤ THỂ | 11 |
| KẾT LUẬN | 13 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 14 |
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, sự hiện diện của quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ là một điều tất yếu. Có cạnh tranh đương nhiên sẽ có đào thải, khi đó doanh nghiệp nào không đáp ứng được những đòi hỏi của quy luật cạnh tranh trên thương trường thì doanh nghiệp đó sẽ bị đào thải. Có nhiều hình thức doanh nghiệp có thể lựa chọn để rút lui khỏi thị trường hiện nay, trong đó có phá sản doanh nghiệp. Đây là hiện tượng kinh tế phát sinh khi các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài và lâm vào tình trạng mất khả năng thah toán nợ khi đến hạn. Tuy nhiên trên thực tế, việc quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán hiện nay còn nhiều vướng mắc, chưa tạo được điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phá sản. Chính vì vậy, em xin lựa chọn đề bài: “Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản theo pháp luật phá sản hiện hành. Liên hệ 01 vụ việc cụ thể.” để thực hiện bài Tiểu luận cuối kỳ môn Luật Thương mại 1 của mình. Do hạn chế về thời gian cũng như tầm hiểu biết, bài làm của em sẽ khó tránh khỏi những sai sót, kính mong quý thầy/cô góp ý tạo điều kiện để bài làm của em có thê hoàn thiện hơn. Em xin trân trọng cảm ơn.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN NỢ ĐẾN HẠN SAU KHI CÓ QUYẾT ĐỊNH MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN
VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
1.1. Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Trên cơ sở đặc thù của hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp, khoa học pháp lý ngày nay xem phá sản doanh nghiệp là một hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Đặc trưng cơ bản để xác định doanh nghiệp phá sản được khoa học pháp lý đánh giá trước tiên là dấu hiệu mất khả năng thanh toán khoản nợ. Việc doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán là căn cứ để Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản. Quyết định này của Tòa án gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt đối với các chủ thể có liên quan, đặc biệt là con nợ. Cụ thể, khi lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến bị tuyên bố phá sản, doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng tới danh dự, uy tín của mình trên thương trường, đồng thời bị hạn chế quyền quản lý tài sản và quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hiện nay, Luật Phá sản năm 2014 ra đời đã không còn sử dụng khái niệm doanh nghiệp “lâm vào tình trạng phá sản” như trong Luật Phá sản 2004 mà thay vào đó là khái niệm doanh nghiệp “mất khả năng thanh toán” . Theo đó, Khoản 1 Điều 4 về giải thích từ ngữ Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”
Như vậy, theo quy định trên,doanh nghiệp được xem là mất khả năn gthanh toán khi doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp có khoản nợ không có bảo đảm và khoản nợ có bảo đảm một phần đến hạn mà doanh nghiệp không thanh toán được. Đối với các khoản nợ có đẩm bảo đến hạn mà doanh nghiệp không thanh toán được không được xem là dấu hiệu của việc doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Bởi lẽ, đối với các khoản nợ có đẩm bảo, khi doanh nghiệp không thanh toán khi đến hạn thì chủ nợ đã có những tài sản bảo đảm để bảo vệ quyền lợi của mình. Pháp luật Việt Nam hiện hành về phá sản không quy định cụ thể mức nợ tối thiểu đối với doanh nghiệp bị coi là mất khả năng thanh toán. Doanh nghiệp được coi là mất khả năng thanh toán khi doanh nghiệp có khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần mà không thanh toán được.
Thứ hai, doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đến hạn trong một khoảng thời gian nhất định. Mất khả năng thanh toán không có nghĩa là doanh nghiệp không còn bất kỳ tài sản nào để thanh toán các khoản nợ mà mất khả năng thanh toán ở đây được hiểu là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn cho chủ nợ không đảm bảo và đảm bảo một phần mặc dù doanh nghiệp còn tài sản.
Khi nói đến “doanh nghiệp mất khả năng thanh toán”, rất nhiều người sẽ nghĩ rằng doanh nghiệp đó không có khả năng thnah toán, nhưng theo định nghiax tại Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản 2014 thì ngoài trường hợp được nêu ở trên thì chỉ cần doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ của mình trong một thời hạn nhất định mà pháp luật đã quy định đã có thể xem là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Thời đểm doanh nghiệp được xác định mất khả năng thanh toán là trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Luật Phá sản 2014 dã thay đổi cách tính thười hạn từ “khi chủ nợ có yêu cầu” (Luật Phá sản 2004) thành “kể từ ngày đến hạn thanh toán”.
Tóm lại, một doanh nghiệp bị coi là mất khả năng thanh toán chỉ khi doanh nghiệp đó có đầy đủ hai điều kiện nêu trên. Khi đó, các chủ nợ và Tòa án mới được áp dụng các biện pháp đối với một doanh nghieejo mất khả năng thanh toán vào doanh nghiệp này.
1.2. Khái niệm và đặc điểm tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Tại Việt Nam, Luật Phá sản 2014 không đưa ra khái niệm “tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán” mà chỉ liệt kê ra các loại tài sản của doanh nghiệp ra (Điều 64 Luật Phá sản 2014). Có thể khẳng định rằng tư duy pháp lý về tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán của Luật Phá sản 2014 chưa có điểm gì mới so với trước đó ngoài việc hợp nhất giữa tài sản được kiểm kê tại thời điểm Tòa án nhân dân mở thủ tục và tài sản được thu hồi thông qua các biện pháp bảo toàn tài sản theo luật định. Ngoài ra Luật Phá sản năm 2014 sử dụng phương pháp liệt kê các loại tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán như trên giúp cơ quan tố tụng cũng như các bên liên quan có thể định hình, đánh giá và kiểm kê dễ dàng, đầy đủ hơn khối tài sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc liệt kê các tài sản của doanh nghiệp ra như như trên chưa tưng mang tính khái quát cao và có thể dẫn tới việc liệt kê thiếu các loại tài sản phát sinh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Bên cạnh đó, Luật Phá sản năm 2014 không có quy định về tài sản thuộc diện loại trừ khỏi khối tài sản phá sản, điều này chưa thể hiện được sự nhân đạo của Nhà nước cũng như các các chủ nợ đối với doanh nghiệp.
Với cách xác định tổng số tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán như Luật Phá sản năm 2014 cho thấy một số đặc điểm về tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, cụ thể:
Thứ nhất, tổng số tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được xác định căn cứ vào thời điểm trong thủ tục giải quyết phá sản. Tổng số tài sản không chỉ tính đến thời điểm Tòa án nhân dân quyết định mở thủ tục phá sản mà còn bao gồm cả tài sản có được sau ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản.
Thứ hai, khối tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thnah toán được xác định không giới hạn phạm vi không gian mà những tài sản của doanh nghiệp đang sở hữu. Tức là tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán bao gồm tất cả tài sản mà doanh nghiệp đang sở hữu cả trong và ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0096″]
