THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 61 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0095.
- Văn bản áp dụng: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHI YÊU CẦU ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI | 6 |
| 1.1. Khái niệm, ý nghĩa biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời | 6 |
| 1.1.1. Khái niệm buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời | 6 |
| 1.1.2. Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời | 6 |
| 1.1.3. Ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời | 6 |
| 1.1.4. Ý nghĩa của việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời | 6 |
| 1.2. Cơ sở lý luận để xây dựng chế định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời | 9 |
| 1.2.1. Quyền tự định đoạt của đương sự | 9 |
| 1.2.2. Bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự | 9 |
| 1.3. Các biện pháp buộc thực hiện biện pháp bảo đảm | 9 |
| 1.3.1. Chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác | 9 |
| 1.3.2. Tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá | 10 |
| 1.4. Đặc điểm pháp lý của biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời | 10 |
| 1.4.1. Là biện pháp tiền đề để áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc người yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm | 10 |
| 1.4.2. Là biện pháp tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi có tính cấp thiết của các đương sự trong tố tụng dân sự | 11 |
| 1.4.3. Được quy định trong một số văn bản pháp luật tố tụng điều chỉnh quan hệ dân sự | 11 |
| CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI | 13 |
| 2.1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án | 13 |
| 2.2. Biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trong giải quyết vụ án về tranh chấp Kinh doanh thương mại | 14 |
| 2.2.1. Khái niệm về biện pháp khẩn cấp tạm thời | 14 |
| 2.2.2. Đặc điểm của biện pháp khẩn cấp tạm thời | 15 |
| 2.3. Phân loại Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại | 16 |
| 2.3.1. Biện pháp khẩn cấp tạm thời có biện pháp bảo đảm | 16 |
| 2.3.2. Biện pháp khẩn cấp tạm thời không có biện pháp bảo đảm | 20 |
| 2.3.3. Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của đương sự | 20 |
| Chương 3: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG | 22 |
| 3.1. Quy định pháp luật về chủ thể có quyền yêu cầu và thẩm quyền áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại | 22 |
| 3.1.1. Chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án | 22 |
| 3.1.2. Thẩm quyền áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án | 23 |
| 3.2. Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trong giải quyết vụ án về tranh chấp Kinh doanh thương mại và thực tiễn áp dụng tại Tòa án | 24 |
| 3.2.1. Biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp | 24 |
| 3.2.2. Biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp | 25 |
| 3.2.3. Biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp | 26 |
| 3.2.4. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác | 27 |
| 3.2.5. Các biện pháp phong tỏa tài sản | 28 |
| 3.2.6. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định | 32 |
| 3.2.7. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ | 32 |
| 3.2.8. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu | 34 |
| 3.2.9. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án | 34 |
| 3.2.10. Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định | 36 |
| 3.3. Trình tự, thủ tục áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án | 36 |
| 2.3.1. Trường hợp trước khi Tòa án mở phiên tòa | 36 |
| 3.3.2. Trường hợp sau khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử | 38 |
| 3.4. Trách nhiệm pháp lý của Tòa án về việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại | 40 |
| Chương 4: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI | 43 |
| 4.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện quy định của pháp luật về áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại | 43 |
| 4.2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại | 45 |
| 4.2.1. Hoàn thiện về trình tự, thủ tục áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Tòa án | 45 |
| 4.2.2. Hoàn thiện về áp dụng biện pháp bảo đảm khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời | 46 |
| 4.2.3. Hoàn thiện quy định pháp luật trong việc xác định tài sản và giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời | 47 |
| 4.2.4. Hoàn thiện quy định pháp luật trong trường đương sự có hành vi cố ý hủy hoại chứng cứ hoặc tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ; không chấp hành Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Tòa án đã ra quyết định áp dụng | 47 |
| 4.2.5. Cần sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật tố tụng dân sựsự về biện pháp khẩn cấp tạm thời | 48 |
| KẾT LUẬN | 52 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 54 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015 tại Kỳ họp thứ 10, cùng với những đạo luật khác, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Bộ luật tố tụng dân sựsự quy định cụ thể hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng và cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Chiếm phần nhiều trong số các tranh chấp dân sự, các tranh chấp trong Kinh doanh thương mại tại Tòa án là các loại án liên quan đến quyền sở hữu tài sản. Để đảm bảo bản án được thi hành cũng như đảm bảo sự vẹn toàn của tài sản đang tranh chấp, Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định cho đương sự quyền yêu cầu áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ đối tượng là tài sản có liên quan đến hồ sơ vụ việc. Đồng thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời khi yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, pháp luật đã quy định về các biện pháp bảo đảm khi có yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Hiện nay trong giai đoạn hội nhập, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trên thị trường kéo theo hệ lụy là các tranh chấp liên quan đến hoạt động kinh doanh, thương mại (Kinh doanh thương mại) ngày càng nhiều, với tính chất ngày càng phức tạp. Do đó, đòi hỏi hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ kinh doanh thương mại phải chặt chẽ, rõ ràng và minh bạch; tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp và có căn cứ pháp lý vững chắc để Tòa án bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những vụ án tranh chấp liên quan đến hoạt động Kinh doanh thương mại.
Trong quá trình Tòa án giải quyết, có những sự kiện pháp lý xảy ra như đương sự hủy hoại chứng cứ, tẩu tán tài sản,…Nếu pháp luật không có biện pháp để ngăn chặn thì hậu quả sẽ không khắc phục được, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, dẫn đến người dân xem thường pháp luật. Vì vậy, các Biện pháp khẩn cấp tạm thời (Biện pháp khẩn cấp tạm thời) được ra đời. Đây được xem là công cụ pháp lý hữu hiệu, giúp cho Tòa án xử lý khẩn cấp những hành vi vi phạm pháp luật của đương sự, tạm thời ngăn chặn hậu quả xấu xảy ra trong khi chờ đợi phán quyết của Tòa án, đồng thời giúp cho Tòa án giải quyết vụ án được đúng đắn và kịp thời.
Tuy nhiên, pháp luật quy định về thủ tục áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa đầy đủ, rõ ràng nên thực tiễn áp dụng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Chính vì vậy, học viên chọn nghiên cứu đề tài: “Các sai sót, vướng mắc về áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thực tiễn giải quyết vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại” để hoàn thành tiểu luận của mình.
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Từ lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong hoạt động xét xử tại Tòa án; việc nghiên cứu nhằm tìm ra những vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành liên quan đến việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời ở giai đoạn khởi kiện, chuẩn bị xét xử và xét xử tại Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015(Bộ luật tố tụng dân sựSự năm 2015).
3. Phương pháp nghiên cứu
Qua hoạt động nghiên cứu, tập hợp và hệ thống tài liệu cho thấy đã có một số công trình nghiên cứu khoa học về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Có thể kể tên một số công trình có liên quan gồm:
– Luận văn thạc sĩ Luật học: “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại” của Phan Nhựt Bình, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, 2010;
– Luận văn thạc sĩ Luật học: “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài Việt Nam” của Lương Thanh Quang, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh, 2013;
– Hà Văn Mâu: “Áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời – Trao đổi từ quy định của Bộ luật Tố dân sự Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/2011;
– Nguyễn Văn Lin: “Kiến nghị đối với các quy định về Biện pháp khẩn cấp tạm thời”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2011;
– Tạ Hữu Huy: “Về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 23/2014;
– Nguyễn Phương Anh: “Thực trạng áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời và kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sựsự”, Tạp chí Luật học, số 8/2015;
– Đinh Bá Trung: “Góp ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sựsự về Biện pháp khẩn cấp tạm thời”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 09/2015;
– Hoàng Quỳnh Trang: “Các Biện pháp khẩn cấp tạm thời – Thực tiễn áp dụng và kiến nghị sửa đổi, bổ sung pháp luật”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 22/2015;
Các công trình khoa học trên nghiên cứu về chế định Biện pháp khẩn cấp tạm thời một cách chung nhất, một số còn đi vào phân tích các Biện pháp khẩn cấp tạm thời không buộc người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm, việc đi sâu phân tích buộc thực hiện biện pháp bảo đảm chưa được chú trọng phân tích, nghiên cứu, do đó, công trình nghiên cứu tập trung về buộc thực hiện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quy định pháp luật và thực tiễn về việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm, tác giả mong muốn đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu những quy định hiện hành và những bất cập trong thực tiễn áp dụng liên quan đến buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đưa ra những kiến nghị thực hiện công tác xây dựng văn bản pháp quy, đảm bảo tính điều chỉnh thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật cũng như xây dựng tính đồng bộ của các cơ quan có liên quan trong công tác thực hiện các biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, để việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm được thực hiện một cách chính xác, đúng đắn, đầy đủ và kịp thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin cùng với đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cải cách tư pháp.
Đồng thời việc nghiên cứu cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể: Phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, đánh giá và tổng kết kinh nghiệm để thực hiện đề tài.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống, góp phần làm sáng tỏ vấn đề lý luận về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Đồng thời tổng kết một số thực tiễn, nghiên cứu những vướng mắc, bất cập để từ đó đề xuất những giải pháp có giá trị nhằm hoàn thiện quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, hạn chế tối đa tranh chấp có liên quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
6. Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài được thiết kế thành ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Chương 2: Lý luận chung về tranh chấp kinh doanh, thương mại và Biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trong giải quyết vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Chương 3: Quy định pháp luật về áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại và thực tiễn áp dụng.
Chương 4: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BUỘC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM KHI YÊU CẦU ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
1.1. Khái niệm, ý nghĩa biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1.1.1. Khái niệm buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là việc nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc của tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng.
1.1.2. Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời
Giáo trình luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2014 đưa ra khái niệm về Biện pháp khẩn cấp tạm thời như sau: “Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp do pháp luật quy định mà Tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết các yêu của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được bảo đảm thi hành án”.
1.1.3. Ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời
Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp do Tòa án quyết định trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự hoặc được áp dụng độc lập với vụ việc đó nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản, bảo vệ chứng cứ hoặc bảo đảm cho việc thi hành án dân sự.
1.1.4. Ý nghĩa của việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Về phương diện lý luận, biện pháp bảo đảm được xem như biện pháp dự phòng, bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ. Như vậy, mục đích của của biện pháp bảo đảm này là nhằm chắc chắn rằng nếu việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không đúng, gây ra thiệt hại thì đã có sẵn một giá trị tài sản bảo đảm đề bồi thường cho người bị thiệt hại.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng từ phía người có quyền yêu cầu, các nhà lập pháp đã xây dựng trong BLTTDS những quy định về các Biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm như phải gửi một khoản tiền, kim khí quý hoặc đá quý, các loại giấy tờ có giá khác vào một tài khoản phong tỏa tại ngân hàng.
Theo quy định tại Điều 136 BLTTDS năm 2015, người yêu cầu áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15 và 16 Điều 114 BLTTDS năm 2015 phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để đảm bảo quyền và lợi ích của người bị yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng từ phía người có quyền yêu cầu.
Điều 111 BLTTDS năm 2015 nêu rõ “1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc nhiều Biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.
- Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó”.
Theo quy định trên thì Tòa án sẽ áp dụng các Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, những yêu cầu cấp thiết, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ … khi đương sự có yêu cầu. Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời với mục đích giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ thể bị ảnh hưởng bởi yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Việc Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời có tác dụng giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, giúp nhanh chóng ổn định cuộc sống, bảo vệ bằng chứng, bảo vệ được tài sản…, do đó việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án được thực hiện trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự. Điều này có nghĩa là Tòa án được quyền áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời vào bất cứ thời điểm nào trong khi thụ lý giải quyết vụ việc. Thậm chí trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng ngay Biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 111 BLTTDS năm 2015[1].
Do những mâu thuẫn về lợi ích, nên có những vụ việc đương sự yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người bị ảnh hưởng, do đó, việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời là cần thiết để ngăn chặn việc lạm dụng quyền được yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự, bảo đảm vụ việc dân sự được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị yêu cầu, nếu việc yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, gây thiệt hại cho chủ thể bị yêu cầu thì phải có biện pháp để bồi thường ngay những tổn thất trên thực tế cho họ.
1.2. Cơ sở lý luận để xây dựng chế định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1.2.1. Quyền tự định đoạt của đương sự
Quyền tự quyết định và tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Điều 5 của BLTTDS năm 2015[2]. Nguyên tắc này thể hiện sự tôn trọng ý chí, nguyện vọng của các đương sự trong tố tụng dân sự.
1.2.2. Bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự
Khi có thiệt hại phát sinh do áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời thì giá trị buộc thực hiện biện pháp bảo đảm được dùng để khắc phục hậu quả thiệt hại do chính Biện pháp khẩn cấp tạm thời gây ra. Vì vậy, bên cạnh quy định cho đương sự có quyền yêu cấu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời , pháp luật còn quy định buộc đương sự thực hiện biện pháp bảo đảm, có như vậy, quyền lợi của bên yêu cầu áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời và chủ thể bị ảnh hưởng bởi việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời đều được đảm bảo.
[1] Khoản 2 Điều 111 BLTTDS 2015 quy định: “Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó”.
[2] Điều 5 của BLTTDS năm 2015: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự…Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0095″]
