THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 30 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0090.
- Văn bản áp dụng: Luật Cạnh tranh năm 2018.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| I. TỔNG QUÁT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH | 1 |
| II. TỐ QUYỀN TRONG VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH (1 NGƯỜI) | 1 |
| 2.1. Việc mở thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh theo yêu cầu của bên khiếu nại | 2 |
| 2.2. Việc tiếp nhận và thụ lý khiếu nại | 3 |
| 2.3. Nghĩa vụ chứng minh của bên khiếu nại | 4 |
| 2.4. Thời hiệu và cách tính thời hiệu khiếu nại | 4 |
| III. CÁC HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH DO CÁ NHÂN, TỔ CHỨC GÂY RA | 5 |
| 3.1. Thoả thuận hạn chế cạnh tranh | 5 |
| 3.2. Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường | 6 |
| 3.3. Cạnh tranh không lành mạnh | 7 |
| 3.4. Tập trung kinh tế | 8 |
| IV. CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI | 8 |
| V. THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH GÂY RA | 9 |
| 5.1. Thẩm quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh | 9 |
| 5.2. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra | 10 |
| VI. VIỆC XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI DO HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH GÂY RA | 10 |
| VII. MỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH GÂY RA | 11 |
| 7.1. Nguyên tắc xác định mức bồi thường | 11 |
| 7.2. Hạn chế về quy định xác định mức bồi thường | 12 |
| VIII. THỜI HIỆU KHỞI KIỆN YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH GÂY RA | 12 |
| IX. BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC | 13 |
| 9.1. Những mặt hạn chế | 13 |
| 9.2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra ở Việt Nam hiện nay | 16 |
| X. KẾT LUẬN VỀ VIỆC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH | 24 |
| DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO | 26 |
LỜI MỞ ĐẦU
I. TỔNG QUÁT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
Trong Bộ luật Dân sự 2015, bồi thường thiệt hại được đánh giá là một chế định quan trọng, hay còn là một hình thức trách nhiệm dân sự. Chế định này buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả cho bên bị thiệt hại bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần.
Theo Luật Cạnh tranh (2018), việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra được dẫn chiếu đến quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Các chủ thể kinh doanh, hiệp hội ngành nghề vi phạm pháp luật cạnh tranh sẽ chịu các hình thức trách nhiệm pháp lý để xử lí vi phạm pháp luật cạnh tranh.
Các hình thức trách nhiệm pháp lý áp dụng cho các chủ thể kinh doanh, hiệp hội ngành nghề khi vi phạm pháp luật cạnh tranh gồm: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự. Các hình thức trách nhiệm pháp lý này sẽ được áp dụng tuỳ vào tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm.
Trong trường hợp tổ chức, cá nhận cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh thì đều có quyền khởi kiện. Điều này phù hợp với nguyên tắc và tổ chức, cá nhân bị thiệt hại có thể yêu cầu bên có hành vi vi phạm. phải bồi thường thiệt hại cho mình.
II. TỐ QUYỀN TRONG VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH (1 NGƯỜI)
Trong lĩnh vực pháp luật cạnh tranh, “tố quyền” được hiểu là quyền của doanh nghiệp (thương nhân), người tiêu dùng có thể khiếu nại hay khởi kiện lên cơ quan quản lý cạnh tranh, tòa án trong trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại bởi hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh. Việc ghi nhận và đảm bảo quyền khiếu nại hay khởi kiện của thương nhân, người tiêu dùng nhằm chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là các hành vi hạn chế cạnh tranh gây thiệt hại cho họ là một nội dung hết sức quan trọng trong pháp luật cạnh tranh của bất kỳ quốc gia nào bởi nó không chỉ đảm bảo cho công lý được thực thi mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến tính hiệu quả của pháp luật cạnh tranh tại quốc gia đó. Bảo đảm quyền khiếu nại, khởi kiện trong thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh là một nguyên tắc cần thiết và rất quan trọng trong xây dựng và thực thi pháp luật cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới.
Do tính chất rất đặc thù của pháp luật cạnh tranh là có sự pha trộn giữa “luật công” và “luật tư”, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh là sự pha trộn giữa thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp, nên tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, vụ việc cạnh tranh sẽ được khởi xướng bởi sự chủ động nhập cuộc của cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm hoặc từ các khiếu nại hay khởi kiện của các tổ chức, cá nhân bị vi phạm. Chính vì vậy, việc thực hiện quyền khiếu nại của các tổ chức, cá nhân là một kênh quan trọng để phát hiện ra hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh để từ đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra, xử lý theo pháp luật cạnh tranh. Do đó, để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh, để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi phạm pháp luật cạnh tranh, ngoài việc ghi nhận, nhất thiết cần có những giải pháp phù hợp nhằm khuyến khích việc thực hiện quyền khiếu nại của mọi tổ chức, cá nhân.
Ở nước ta hiện nay, quyền khiếu nại về hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của tổ chức, cá nhân được ghi nhận tại Điều 77 Luật Cạnh tranh 2018 với nội dung: “Tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh (sau đây gọi chung là bên khiếu nại) có quyền khiếu nại đến Ủy ban Cạnh tranh quốc gia”.
Theo quy định của pháp luật cạnh tranh, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh theo yêu cầu của bên khiếu nại được thực hiện như sau:
2.1. Việc mở thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh theo yêu cầu của bên khiếu nại
Đơn khiếu nại của tổ chức, cá nhân khi đảm bảo đủ các điều kiện và được cơ quan cạnh tranh (Ủy ban Cạnh tranh quốc gia) thụ lý theo thẩm quyền sẽ trở thành một trong hai căn cứ pháp lý để thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh được mở ra. Theo quy định của Điều 80 Luật Cạnh tranh năm 2018, Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ra quyết định điều tra vụ việc cạnh tranh trong trường hợp việc khiếu nại vụ việc cạnh tranh đã đáp ứng yêu cầu theo quy định và được thụ lý (không thuộc trường hợp bị trả lại hồ sơ khiếu nại).
2.2. Việc tiếp nhận và thụ lý khiếu nại
– Sau khi tiếp nhận hồ sơ khiếu nại, Ủy ban Cạnh tranh quốc gia trong thời hạn 07 ngày chỉ xem xét tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ. Nếu hồ sơ đảm bảo đầy đủ, hợp lệ theo yêu cầu, Ủy ban Cạnh tranh quốc gia sẽ thông báo cho bên khiếu nại về việc tiếp nhận hồ sơ khiếu nại (Điều 78 Luật Cạnh tranh 2018).
Trong thời hạn 15 ngày tiếp theo, Ủy ban Cạnh tranh quốc gia tiếp tục xem xét hồ sơ khiếu nại có thỏa mãn yêu cầu của Khoản 3 Điều 77 hay không để yêu cầu bổ sung hồ sơ trong thời hạn tối đa là 45 ngày (kể cả trường hợp gia hạn 15 ngày). Hồ sơ khiếu nại theo quy định tại Khoản 3 Điều 77 bao gồm: a) Đơn khiếu nại theo mẫu do Ủy ban Cạnh tranh quốc gia ban hành; b) Chứng cứ để chứng minh các nội dung khiếu nại có căn cứ và hợp pháp; c) Các thông tin, chứng cứ liên quan khác mà bên khiếu nại cho rằng cần thiết để giải quyết vụ việc. Mặc dù tiêu chí đánh giá trong lần thứ hai này không được Luật quy định rõ nhưng ta có thể hiểu rằng, việc xem xét sẽ theo các “tiêu chí nội dung” trên cơ sở việc đánh giá kỹ càng các căn cứ, thông tin mà hồ sơ khiếu nại đã cung cấp.
– Việc tiếp nhận hồ sơ khiếu nại của Ủy ban Cạnh tranh quốc gia sẽ được thông báo đồng thời cho cả bên khiếu nại và bên bị khiếu nại (Khoản 1 Điều 78). Đây có lẽ cũng là một quy định thể hiện rõ hơn sự chặt chẽ, tính chất “tư pháp” của thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, bởi lẽ, khi được thông báo sớm về việc bị khiếu nại sẽ đảm bảo tốt hơn quyền “bào chữa” của bên bị khiếu nại, đảm bảo tính “tranh tụng” trong tố tụng cạnh tranh, mặc dù tại thời điểm đó, thủ tục điều tra vụ việc cạnh tranh (điều tra trong tố tụng) hoàn toàn chưa mở ra. Chính quy định này đã tạo ra một loại chủ thể tham gia tố tụng mới là bên bị khiếu nại để phân biệt với bên bị điều tra (bên bị khiếu nại chỉ trở thành bên bị điều tra trong trường hợp Ủy ban Cạnh tranh quốc gia ra quyết định điều tra).
Luật Cạnh tranh năm 2018 còn quy định trong thời gian Ủy ban Cạnh tranh quốc gia xem xét và yêu cầu bổ sung hồ sơ, bên khiếu nại có quyền rút đơn khiếu nại và hành vi này sẽ dẫn đến hệ quả pháp lý là Ủy ban Cạnh tranh quốc gia dừng việc xem xét hồ sơ khiếu nại.
2.3. Nghĩa vụ chứng minh của bên khiếu nại
Điều 77 Luật Cạnh tranh 2018 quy định, bên khiếu nại có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh hành vi vi phạm. Bên khiếu nại phải nộp kèm Hồ sơ khiếu nại chứng cứ để chứng minh các nội dung khiếu nại là có căn cứ và hợp pháp cùng các thông tin, chứng cứ liên quan khác mà bên khiếu nại cho rằng cần thiết để giải quyết vụ việc. Như vậy, nghĩa vụ chứng minh của bên khiếu nại được áp dụng chung cho cả vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, vụ việc hạn chế cạnh tranh và vụ việc vi phạm các quy định về tập trung kinh tế.
2.4. Thời hiệu và cách tính thời hiệu khiếu nại
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 77 Luật Cạnh tranh 2018, thời hiệu khiếu nại vụ việc cạnh tranh là 03 năm và cách tính thời hiệu là kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0090″]
