THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 26 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0020.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Lý do lựa chọn đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu | 2 |
| CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT | 4 |
| 1.1. Khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng | 4 |
| 1.2. Các loại chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật | 4 |
| 1.2.1. Chế độ tài sản pháp luật | 4 |
| 1.2.2. Chế độ tài sản ước định | 4 |
| 1.3. Đặc điểm của chế độ tài sản của vợ chồng | 5 |
| CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN THEO PHÁP LUẬT CỦA HOA KỲ | 7 |
| 2.1. Khái quát chung về tài sản và chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo pháp luật của Hoa Kỳ | 7 |
| 2.1.1. Khái niệm về tài sản | 7 |
| 2.1.2. Khái niệm về hôn ước | 7 |
| 2.2. Những yêu cầu về mặt nội dung và hình thức của chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 8 |
| 2.3. Sửa đổi, hủy bỏ chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 9 |
| 2.4. Thi hành hôn ước | 9 |
| CHƯƠNG 3: CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN THEO PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM | 11 |
| 3.1. Nguyên tắc áp dụng theo quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận | 11 |
| 3.2. Những yêu cầu về hình thức và nội dung | 11 |
| 3.3. Quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng | 13 |
| 3.4. Lưu ý cho các trường hợp văn bản thỏa thuận bị vô hiệu | 14 |
| CHƯƠNG 4: BÀI HỌC CHO VIỆT NAM | 16 |
| 4.1. Rõ ràng và cụ thể hơn trong quy định về nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng | 16 |
| 4.1.1. Xác định quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung và tài sản riêng | 16 |
| 4.1.2. Xác định tài sản chung và tài sản riêng | 17 |
| 4.2. Quy định về thời điểm sửa đổi, bổ sung nội dung thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng | 18 |
| KẾT LUẬN | 20 |
| TIỂU LUẬN THAM KHẢO | 22 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Kết hôn là nền tảng quan trọng để tạo dựng gia đình, hình thành “tế bào” mới của xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển. Kết hôn dẫn đến hình thành nhiều mối quan hệ đặc thù, trong đó có nhiều vấn đề cần quan tâm như quan hệ về tài sản, con cái, quyền lợi và nghĩa vụ khác của các bên… mà đặc biệt cần chú ý đến quan hệ tài sản của hai bên nam – nữ khi quyết định kết hôn với nhau.
Như là một tất yếu của cuộc sống chung, vợ và chồng thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình. Đây là những quan hệ xảy ra phổ biến trong xã hội và chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về hôn nhân và gia đình, trong một quy chế được gọi là Chế độ tài sản của vợ chồng. Có một câu hỏi lớn đặt ra là: Chế độ tài sản của vợ chồng sẽ được xác lập theo luật pháp hay theo sự thỏa thuận của vợ chồng?
Xuất phát từ bản chất quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu tố nhân thân và tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và không có tính đền bù ngang giá. Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà chia tài sản chung của vợ chồng, đặc biệt là chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỷ hôn nhân là một vấn đề quan trọng trong chế độ tài sản của vợ chồng. Chế độ tài sản theo thỏa thuận cũng không còn là điều mới lạ với nhiều nước trên thế giới, ngược lại, nó đã tồn tại từ rất sớm. Đây là hiện tượng thể hiện sự độc lập không vụ lợi trong quan hệ tài sản của các bên nam nữ khi lập gia đình. Một số quốc gia như Bulgari, Hungari, Romani, Tiệp Khắc, Việt Nam, ngoài ra còn có Argentina và một số bang ở Mehico còn duy trì duy nhất một chế độ tài sản pháp định đối với vợ chồng. Nhưng, đa số các quốc gia phát triển trên thế giới hiện nay đều quy định cả hai chế độ tài sản vợ chồng: Theo pháp luật và theo thỏa thuận, tiêu biểu có Pháp và Hoa Kỳ.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được khi áp dụng các quy định trên và thực tiễn thì không tránh khỏi những vướng mắc và khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề “chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm đảm bảo cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Trong phạm vi của bài tiểu luận này, chúng em sẽ tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của các quy định pháp luật về chế độ chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung ở một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra một số giải pháp cho Việt Nam, chúng em xin phép chọn “Chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận theo pháp luật của Hoa Kỳ và bài học cho Việt Nam” làm đề tài chính cho nghiên cứu này.
2. Tình hình nghiên cứu
Thực tế hiện nay, việc chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận đang dần trở nên phổ biến hơn trong đời sống hôn nhân gia đình, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Đây là một vấn đề ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của những người làm luật và học luật.
Phần lớn các quốc gia phát triển, đang phát triển trên thế giới hiện nay đều quy định chế độ tài sản theo thỏa thuận song hành cùng với chế độ tài sản pháp định, tiêu biểu có Hoa Kỳ, Pháp là các quốc gia châu Âu; Trung Quốc, Nhật Bản là các quốc gia châu Á đã công nhận khá sớm chế độ thỏa thuận về tài sản của vợ chồng và tại Việt Nam mới đây cũng đã công nhận chế độ này với tên gọi “chế độ tài sản theo thỏa thuận” cùng với chế độ tài sản pháp định được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình 2014. Và không có ở một quốc gia nào mà vấn đề về chế độ tài sản theo thỏa thuận lại trở nên phổ biến như ở Hoa Kỳ. Mỹ (tên gọi đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hay Hợp chúng quốc Mỹ) là một Cộng hòa lập hiến liên bang gồm có 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang.
Mỹ trước đây không công nhận hôn ước vì cho rằng nó hủy hoại hôn nhân. Đặc biệt là vào thế kỷ XVIII thì Thông luật (Common law) không cho phép vợ chồng lập hôn ước bởi vì họ cho rằng khi hai người kết hôn thì họ đã hòa làm một và không thể có giao dịch khi chỉ có một chủ thể. Một lí do nữa là một người phụ nữ đã có chồng thì họ không được phép tham gia ký kết các hợp đồng trừ khi đã ly thân. Đến khoảng giữa thế kỷ XIX thì một số án lệ ở Mỹ đã cho phép sự tồn tại của hôn ước vì sự phát triển của xã hội và đến tháng 7 năm 1983 một đạo luật về hôn ước (Uniform premarital agreement Act gọi tắt là UPAA) đã được ban hành dựa trên kết quả của các án lệ, UPAA được chấp nhận ở 26 bang của Mỹ, một số bang còn lại có những quy định khác hay đặc biệt hơn so với UPAA.
Nội dung chủ yếu trong các hôn ước ở Mỹ là về tài sản, đặc biệt không được đề cập đến các vấn đề liên quan đến con cái vì các vấn đề này phải được Tòa quyết định dựa vào quyền lợi tốt nhất cho con. Tuy nhiên, theo báo New York Times (Mỹ) thì việc
tranh giành quyền nuôi con là cuộc chiến khá căng thẳng của các cặp đôi sau ly hôn, dẫn đến tranh cãi rằng nên cho các cặp đôi đưa các vấn đề liên quan đến con cái vào hôn ước để tránh thực trạng này.
Tuy nhiên theo luật một số bang công nhân hôn ước tại Mỹ thì hôn ước còn có thể tự động hết hiệu lực sau 7 (bảy) năm áp dụng hay sau khi đứa con đầu tiên ra đời hay hôn ước chỉ được sửa đổi sau 1,5 (một năm rưỡi) năm áp dụng. Như vậy, hôn ước ở Mỹ được quy định tương đối mở cho các cặp vợ chồng trong việc thỏa thuận các nội dung. Và trên thực tế, các cặp đôi cũng rất quan tâm đến chế độ này, nó được thể hiện qua việc nhiều cặp đôi sẵn sàng chi trả một khoản tiền lớn cho luật sư nhằm có được một bản hôn ước hợp pháp và chặt chẽ về nội dung và cả thủ tục.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định.
Thêm vào đó, việc quy định chế độ tài sản vợ chồng ở các quốc gia là khác nhau tùy thuộc vào chế độ kinh tế, xã hội cũng như tập quán, thuần phong, mỹ tục. Pháp luật Hôn nhân và Gia đình thường quy định hai chế độ tài sản vợ chồng: một là theo pháp luật (luật định), hai là theo thỏa thuận.
1.2. Các loại chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật
1.2.1. Chế độ tài sản pháp luật
Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ, nguồn gốc thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan đến các khoản nợ chung hay riêng của vợ chồng. Chế độ tài sản này được tất cả các nước dự liệu trong hệ thống pháp luật của mình, nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng.
1.2.2. Chế độ tài sản ước định
Theo quan điểm thuần túy pháp lý của các nhà làm luật tư sản, hôn nhân thực chất là một hợp đồng, một khế ước do hai bên nam nữ thỏa thuận, xác lập trên nguyên tắc tự do, tự nguyện. Các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được phát sinh và thực hiện trong thời kỳ hôn nhân cũng giống như các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đó. Vì vậy pháp luật cho phép trước khi kết hôn, hai bên được quyền tự do ký kết hôn ước (hay còn gọi là khế ước) miễn sao không trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.
1.3. Đặc điểm của chế độ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu của vợ chồng. Vợ, chồng với tư cách là công dân, vừa là chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình, vừa là chủ thể của quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữu của mình tham gia các giao dịch dân sự.
Chế độ tài sản của vợ chồng có một số đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất, xét về chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này, thì các bên phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau. Do vậy, để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu này, các chủ thể ngoài việc có đầy đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự còn đòi hỏi họ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật hôn nhân và gia đình.
Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, nhà nước bằng pháp luật quy định chế độ tài sản của vợ chồng đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ và chồng. Những quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng là cơ sở tạo điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản của vợ chồng.
Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào sự phát sinh, chấm dứt của quan hệ hôn nhân hay nói cách khác, chế độ tài sản của vợ chồng thường chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân.
Ngoài các đặc điểm chung trên, chế độ tài sản theo thỏa thuận hay còn gọi là “hôn ước” còn có các đặc điểm tạo nên sự khác biệt với chế độ tài sản khác, làm nên dấu ấn riêng của nó:
Một là, hôn ước phải do hai bên nam nữ tự nguyện thỏa thuận.
Hai là, hôn ước phải được lập trước khi kết hôn, tuy nhiên nó chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kỳ hôn nhân.
Ba là, hôn ước phải được xác nhận tính hợp pháp bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, chế độ tài sản của vợ chồng cũng mang những đặc thù riêng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể. Thông thường những người có tài sản riêng có quyền tự mình định đoạt mà không phụ thuộc ý chí của người khác. Tuy nhiên trong chế độ tài sản của vợ chồng, dù là chế độ tài sản luật định hay chế độ tài sản theo thỏa thuận thì quyền định đoạt của chủ sở hữu có thể bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định…
