THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 34 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0025.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Tính cấp thiết của đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu | 2 |
| CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN | 4 |
| 1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận | 4 |
| 1.1.1. Lịch sử chế độ tài sản theo thỏa thuận trên thế giới | 4 |
| 1.1.2. Lịch sử chế độ tài sản theo thỏa thuận tại Việt Nam. | 6 |
| 1.2. Thỏa thuận xác lập chế độ về tài sản của vợ chồng | 9 |
| 1.2.1. Khái niệm | 9 |
| 1.2.2. Nguyên tắc áp dụng thỏa thuận | 9 |
| 1.2.3. Hình thức và nội dung | 9 |
| 1.2.4. Điều kiện để chế độ tài sản theo thỏa thuận có hiệu lực | 10 |
| 1.2.5. Thay đổi, sửa đổi thỏa thuận | 11 |
| 1.2.6. Hậu quả pháp lý của thỏa thuận về chế độ tài sản chung của vợ chồng bị vô hiệu | 11 |
| 1.2.7. Sự vô hiệu của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng. | 12 |
| CHƯƠNG 2: Ý NGHĨA CỦA CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN VÀ NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM | 14 |
| 2.1. Thực tiễn áp dụng về chế độ tài sản ở Việt Nam | 14 |
| 2.2. Ý nghĩa và khả năng áp dụng chế độ tài sản theo thoả thuận. | 14 |
| 2.2.1. Ý nghĩa của chế độ tài sản theo thỏa thuận | 14 |
| 2.2.2. Hạn chế của chế độ tài sản theo thỏa thuận | 16 |
| 2.3. So sánh quy định pháp luật này của VN so với quốc gia khác. | 18 |
| CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN THEO THỎA THUẬN | 21 |
| 3.1. Bình luận, đánh giá pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận | 21 |
| 3.2. Kiến nghị, đề xuất | 24 |
| KẾT LUẬN | 28 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 29 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay giữa sự phát triển ngày một nhanh chóng của xã hội cùng với tỷ lệ ly hôn mỗi năm gia tăng, vấn đề tài sản trong hôn nhân trên càng trở thành một mối quan tâm sâu sắc khi ngày càng xuất hiện nhiều vụ tranh chấp liên quan đến việc phân chia tài sản của vợ chồng. Không chỉ giữa hai bên mà trong thực tế đời sống, nhiều tranh chấp tài sản của vợ chồng còn liên quan đến cá nhân thứ ba, đặc biệt là khi các bên tham gia vào những giao dịch dân sự, thương mại hay gần hơn là tranh chấp dân sự về tính hợp pháp, giá trị hiệu lực của các hợp đồng tặng cho tài sản, chuyển nhượng tài sản của các bên gia đình đối với con cái khi xác lập quan hệ hôn nhân. Thực tiễn xét xử cho thấy, phần lớn các tranh chấp về ly hôn đều có liên quan đến vấn đề tài sản. Điều này đòi hỏi cơ quan nhà nước và các nhà làm luật phải đưa ra các quy định mới nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội này một cách đúng đắn, hợp lý và hướng đến mục tiêu bảo vệ lợi ích cho tất cả các cá nhân khi tham gia vào quan hệ hôn nhân. Đồng thời những quan hệ được pháp luật HN&GĐ điều chỉnh phải phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống, đạo đức, tập quán của quốc gia, không vi phạm các điều cấm của luật và không mang tính thiên vị đối với bất kỳ bên nào.
Tuy đã trải qua 4 lần sửa đổi, mãi cho đến văn bản Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Việt Nam mới công nhận chế độ tài sản của vợ chồng được xác định dựa trên căn cứ là sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng (chế độ tài sản thỏa thuận). Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm tổng hợp các quy định của pháp luật về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, nguyên tắc phân chia tài sản vợ chồng. Tuy nhiên do sự mới mẻ trong quy định lần đầu được áp dụng, chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những nội dung quan trọng mà Luật Hôn nhân và gia đình còn cần xây dựng, hoàn thiện. Chính vì những lí do trên, nhóm chúng em đã chọn đề tài “Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận”, với mong muốn có thể đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo Luật Hôn nhân và gia đình ở nước ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận đang dần trở nên phổ biến hơn trong đời sống hôn nhân gia đình không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Có thể thấy, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về cơ bản đã tiếp cận chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận nói riêng từ nhiều góc độ khác nhau. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận nói riêng, điển hình như:
– Andrea Bonomi à Marco Steiner (2006) Les régimes matrimoniaux en droit comparé et en droit international privé, Genève.[1] Bài viết phân tích về chế độ tài sản của vợ chồng trong luật so sánh và trong luật tư pháp quốc tế, chỉ ra một sự giống nhau cơ bản của pháp luật ở nhiều nước về quyền tự do của lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng. Những nghiên cứu so sánh này chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp ở pháp luật của một vài nước Châu âu, Canada.
Ngoài ra ở Việt Nam, ngay từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực, một số tác giả đã đưa ra những quan điểm của mình về điểm mới của luật, cụ thể:
– Nguyễn Thị Kim Dung (2014) Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội. Luận văn đã phân tích những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận; phân tích hệ thống pháp luật Việt Nam về chế độ tài sản này, từ đó đưa ra quan điểm, phương hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận.
– Lã Thị Tuyền (2014) Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã phân tích những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng; phân tích nội dung chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành; đánh giá thực trạng áp dụng và từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu nói trên của các tác giả trong và ngoài nước về cơ bản đã tiếp cận chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận nói riêng từ nhiều góc độ khác nhau. Mỗi công trình, bài viết nghiên cứu thường tiếp cận lĩnh vực này ở một số khía cạnh hoặc một vấn đề cụ thể, những nghiên cứu về lý luận, những phân tích đánh giá thực trạng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là nguồn tài liệu có giá trị tham khảo bổ ích trong quá trình nghiên cứu và viết tiểu luận này.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN
1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận
1.1.1. Lịch sử chế độ tài sản theo thỏa thuận trên thế giới
Chế độ tài sản theo thỏa thuận không còn là điều mới lạ với nhiều nước trên thế giới, ngược lại, nó đã tồn tại từ rất sớm. Trong thời kỳ đầu của hình thái hôn nhân một vợ một chồng, người phụ nữ đã lập gia đình có quyền giữ lại quyền sở hữu với bất kỳ của hồi môn nào mà họ sở hữu. Về mặt pháp lý, khi kết hôn thường tự lập thỏa thuận trong đó xác định trước quan hệ tài sản giữa vợ và chồng trong cuộc sống tương lai đồng thời cũng nêu rõ những điều kiện thừa kế tài sản khi một bên vợ (hoặc chồng) chết. Việc thỏa thuận như vậy thể hiện sự độc lập và không vụ lợi trong quan hệ tài sản của các bên nam nữ khi tiến tới hôn nhân nhưng họ vẫn nằm dưới thẩm quyền pháp lý của người cha, bất kể là họ đã đi lấy chồng chăng nữa. Chỉ khi người cha qua đời, họ mới được tự do về mặt pháp lý.
Nhiều nước trên thế giới ghi nhận sự thỏa thuận này trong pháp luật quốc gia mình, tuy nhiên mỗi quốc gia lại có thuật ngữ, quy định quá trình tạo lập cũng như công nhận sự thỏa thuận này theo cách khác nhau. Trong đó, thuật ngữ “hôn ước” được sử dụng khá phổ biến, thuật ngữ này được hiểu: Là văn bản do hai bên nam nữ lập trước khi kết hôn theo thể thức nhất định. Đây là chế độ tài sản ước định, còn gọi là thỏa thuận tiền hôn nhân về tài sản. Trong đó ghi nhận sự thỏa thuận của họ về chế độ tài sản vợ chồng được áp dụng trong thời kỳ hôn nhân và chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kỳ hôn nhân. Phần lớn các quốc gia phát triển, đang phát triển trên thế giới hiện nay đều quy định chế độ tài sản theo thỏa thuận song hành cùng với chế độ tài sản pháp định, tiêu biểu có Mỹ, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản,.. Dưới đây là những quy định về chế độ tài sản theo thỏa thuận của một số quốc gia trên thế giới.
1.1.1.1. Pháp
Từ thế kỷ XVI, nguyên tắc tự do lựa chọn chế độ tài sản trong hôn nhân đã được bắt nguồn từ việc thực hiện nguyên tắc tự do ký kết hợp đồng đã được thừa nhận ở Pháp, khi mà những quan hệ kinh tế, thương mại phát triển mạnh. Từ thời kỳ đó, luật pháp và tập quán đã thừa nhận những sự thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của họ như là một quyền tự do cá nhân. Bộ luật Dân sự 1804 hay còn gọi là Bộ luật Napoleon ra đời đã kế thừa và duy trì nguyên tắc này, đánh dấu Pháp là quốc gia đầu tiên thuộc hệ thống luật lục địa chính thức ghi nhận giá trị pháp lý của hôn ước trong văn bản quy phạm pháp luật.
Bộ luật Dân sự Pháp dành riêng thiên thứ năm quyển thứ ba để quy định về hôn ước và các chế độ tài sản vợ chồng, Điều 1378: “Pháp luật không điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng nếu giữa vợ chồng đã có thỏa thuận riêng mà vợ chồng cho là phù hợp và không trái với thuần phong mỹ tục hoặc với các quy định sau đây…”. Như vậy, khi vợ chồng lập hôn ước thì chế độ tài sản của vợ chồng sẽ được điều chỉnh bằng hôn ước và họ có thể tự do thỏa thuận về vấn đề tài sản nhưng phải tuân theo pháp luật cả về nội dung lẫn hình thức.
Chế độ tài sản mà vợ chồng có thể lựa chọn là chế độ tài sản chung và chế độ tài sản riêng. Việc thỏa thuận lựa chọn trong hôn ước của Pháp là lựa chọn chế độ tài sản, điều này làm mọi việc trở nên đơn giản hơn so với việc vợ chồng tự thỏa thuận đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng và sự chuyển hóa của các khối tài sản này như thế nào.
1.1.1.2. Trung Quốc
Trước năm 2001 ở quốc gia này cũng chỉ áp dụng chế độ tài sản pháp định, tuy nhiên do sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với sự gia tăng của cải cá nhân cũng như mức độ phức tạp ngày càng tăng của các vấn đề liên quan đến của cải có được từ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu đối với cổ phần và phần vốn góp mà việc thay đổi quy định pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Chính sự cấp thiết này, năm 2001 Luật hôn nhân ra đời và đã bổ sung quy định liên quan đến tiền hôn nhân hay hôn ước. Hôn ước được biết đến như một chứng nhận tài sản trước hôn nhân.
Luật hôn nhân năm 2001 của Trung Quốc đã ghi nhận quyền được lập hôn ước của các cặp vợ chồng thông qua Điều 17 và Điều 19: “Tất cả thu nhập kiếm được và tài sản của các bên được coi là tài sản chung ngoại trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”, “Vợ hoặc chồng có thể thỏa thuận ước định tài sản của mỗi bên trước và sau hôn nhân”.Vợ chồng có thể lựa chọn áp dụng chế độ sở hữu tài sản, hoặc là sở hữu chung toàn bộ, hoặc là sở hữu chung một phần hoặc là sở hữu riêng. Nếu thỏa thuận này không rõ ràng hoặc thiếu thì quy định về chế độ sở hữu vợ chồng theo pháp luật được áp dụng. Như vậy, pháp luật Trung Quốc cho phép các cặp đôi lựa chọn giữa chế độ tài sản pháp định hoặc theo thỏa thuận. Khi chế độ tài sản theo thỏa thuận được lựa chọn mà không đáp ứng điều kiện về nội dung thì chế độ tài sản pháp định mặc nhiên được áp dụng.
1.1.2. Lịch sử chế độ tài sản theo thỏa thuận tại Việt Nam.
1.1.2.1. Chế độ tài sản của vợ chồng trước năm 1975 tại Việt Nam
Thời kỳ phong kiến – Quốc triều hình luật (1483) và Hoàng Việt luật lệ (1815)
Hai bộ luật tiêu biểu là Quốc triều hình luật (1483) và Hoàng Việt luật lệ (1815). Quốc triều hình luật quy định có hai hình thức là hứa hôn – nghĩa vụ; có chế độ chia tài sản giữa vợ – chồng (Điều 374 – Điều 376) và người vợ được sở hữu tài sản như người chồng. Còn Hoàng Việt luật lệ quy định hôn nhân phải được hai gia đình đồng ý, hình thức hôn thư – sính lễ; quy định các trường hợp kết hôn – ly hôn; không có chế độ chia tài sản giữa vợ – chồng.
Thời kỳ Pháp thuộc – Dân luật Bắc Kỳ (1931), Dân luật Trung Kỳ (1936) và Dân luật giản yếu Nam Kỳ (1883)
Miền Bắc áp dụng Dân luật Bắc kỳ (1931), miền Trung thi hành Dân luật Trung kỳ (1936) và miền Nam ban hành tập Dân luật giản yếu Nam kỳ (1883).
Hôn ước được ghi nhận trong Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ, riêng tập Dân luật giản yếu Nam kỳ không có ghi nhận về hôn ước cũng như vấn đề tài sản vợ chồng tuy nhiên án lệ ở Nam kỳ trong thời kỳ này lại “luôn luôn nhắc lại nguyên tắc tự do lập hôn ước mà các Tòa án Pháp coi là lẽ đương nhiên được áp dụng trong khi không có luật viết”.
Thời kỳ Mỹ xâm lược – Luật gia đình 1959 và Bộ luật Dân sự 1972
– Luật gia đình năm 1959
Luật gia đình 1959, tại miền Nam (do chính quyền Ngô Đình Diệm cai trị, chính quyền tay sai của Pháp) thì Luật Gia đình ngày 2 tháng 1 năm 1959 công nhận sự thỏa thuận của vợ chồng về tài sản.
– Bộ luật Dân sự năm 1972
Ngày 20/12/1972 chính quyền Việt Nam cộng hòa có ban hành Bộ luật Dân sự năm 1972 trong đó phần phu phụ tài sản cũng dành các Điều từ 144 đến 149 để quy định về hôn ước với những quy định tương đối chung chung và không được rõ ràng như Luật Gia đình năm 1959. Bộ luật này cũng chỉ được áp dụng trong thời gian rất ngắn.
- Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công tại miền Bắc Việt Nam – Sắc lệnh số 97/SL và Luật Hôn nhân và gia đình 1959
– Sắc lệnh số 97/SL
Sắc lệnh số 97/SL là văn bản duy nhất điều chỉnh về vấn đề tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trước khi có Luật Hôn nhân và gia đình 1959 ra đời. Sắc lệnh này không hề đề cập đến việc công nhận hay không công nhận hôn ước.
– Luật Hôn nhân và gia đình 1959
Kế thừa sự ra đời của Hiến pháp 1946, năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình được ban hành để điều chỉnh các quan hệ Hôn nhân và Gia đình. Trong giai đoạn này, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp định, quy định về hôn ước hoàn toàn không còn tồn tại trong pháp luật Việt Nam.
1.1.2.2. Chế độ tài sản của vợ và chồng trong các văn bản pháp luật sau năm 1975 tại Việt Nam:
Luật Hôn nhân và gia đình 1986
Luật Hôn nhân và gia đình 1986 là văn bản luật đầu tiên được ban hành áp dụng toàn quốc sau khi thống nhất đất nước. Theo Luật Hôn nhân và gia đình 1986, vợ chồng cũng không được thỏa thuận bất cứ vấn đề gì về sở hữu tài sản trừ vấn đề nhập tài sản riêng có trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân thành tài sản chung. Các nhà lập pháp chỉ quy định một hình thức duy nhất là chế độ tài sản pháp định và không có sự thừa nhận về hôn ước (hay hiểu cách khác là chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng trước hôn nhân). Do đó, mọi thỏa thuận của vợ chồng về khối tài sản của họ đều bị coi là vô hiệu.
Luật Hôn nhân và gia đình 2000
Tiếp tục kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình 1986, 14 năm sau: để phù hợp với tình hình phát triển của xã hội, Luật Hôn nhân và gia đình 2000 được ban hành. Tuy nhiên trong Luật Hôn nhân và gia đình 2000 cũng chỉ quy định một chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản theo pháp định. Điểm mới được ghi nhận trong văn bản Luật Hôn nhân và gia đình 2000 là cho phép vợ chồng được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và được quyền thỏa thuận tài sản nào là chung, tài sản nào là riêng trong thời kỳ hôn nhân.
Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Tại kỳ họp thứ 7, khóa XIII Quốc hội đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/06/2014 (hiệu lực từ ngày 01/01/2015). Quy định tại Điều 28 về chế độ tài sản trong luật mới vừa thừa nhận chế độ tài sản chung giữa vợ và chồng (chế độ tài sản của vợ, chồng theo luật định), vừa công nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng. Theo đó, chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thực thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 của Luật này. Về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận – một điểm mới của Luật được quy định cụ thể tại các Điều 47, 48, 49, 50 và 59 của Luật này.
1.2. Thỏa thuận xác lập chế độ về tài sản của vợ chồng
1.2.1. Khái niệm
Chế độ tài sản theo thỏa thuận là việc vợ chồng tự thỏa thuận và thỏa thuận cùng với nhau về việc xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của họ. Vợ chồng có thể lựa chọn một trong các chế độ tài sản do pháp luật quy định hoặc tự thiết lập một chế độ riêng với điều kiện không trái với quy định của pháp luật.
[1] Bonomi, A., Steiner, M., & Sandoz, S. (2006). Les régimes matrimoniaux en droit comparé et en droit international privé: Actes du Colloque de Lausanne du 30 septembre 2005. Librairie Droz.
TẢI VỀ ĐỂ XEM ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG
[xyz-ihs snippet=”B0025″]
