THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 26 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0022.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Lý do lựa chọn đề tài | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu đề tài | 2 |
| CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN | 5 |
| 1.1. Sự hình thành và phát triển về chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật của Thái Lan | 5 |
| 1.2. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 6 |
| 1.3. Ý nghĩa chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận | 7 |
| CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG PHÁP LUẬT CỦA THÁI LAN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN | 8 |
| 2.1. Nguyên tắc áp dụng | 8 |
| 2.2. Quy định về hình thức, nội dung | 8 |
| 2.2.1. Hình thức | 8 |
| 2.2.2. Nội dung | 10 |
| 2.3. Điều kiện có hiệu lực | 13 |
| 2.4. Sửa đổi, bổ sung | 15 |
| CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM | 17 |
| 3.1. Thời điểm xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng | 17 |
| 3.2. Chấm dứt chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng | 18 |
| 3.3. Sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng | 20 |
| KẾT LUẬN | 22 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO: | 23 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Thực tiễn cho thấy, phần lớn các tranh chấp của vợ chồng có liên quan đến tài sản; việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng là một vấn đề rất phức tạp, nhưng nếu vợ chồng xác lập thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng trước khi kết hôn thì các vụ tranh chấp sẽ được giải quyết dễ dàng hơn. Tuy chế độ tài sản này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế và khó khăn nhưng nhìn chung, những quy định chi tiết về chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ và chồng đã phần nào đáp ứng đòi hỏi thực tiễn từ cuộc sống, góp phần không nhỏ trong việc tạo lập một định chế pháp lý thống nhất, giải quyết được vấn đề khi phát sinh quan hệ pháp luật về tài sản trong hôn nhân. Vấn đề chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là một thành tố quan trọng trong sự phát triển hệ thống pháp luật và trong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn trong đời sống vợ chồng liên quan đến quan hệ tài sản. Điều đó đồng nghĩa với nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là rất lớn và cần thiết không chỉ với các nhà lập pháp, nghiên cứu pháp luật mà còn với cả sinh viên. Không chỉ vậy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay thì việc nghiên cứu, tìm hiểu về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận của các quốc gia khác đặc biệt là Thái Lan – quốc gia có nhiều nét tương đồng về văn hóa và gần gũi với Việt Nam về mặt địa lý – lại càng quan trọng và cấp thiết. Việc nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo pháp luật của Thái lan sẽ tạo điều kiện để ta hiểu rõ hơn về vấn đề này tại Thái Lan, nhưng đồng thời cũng là cơ hội để nhìn nhận lại chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng ở Việt Nam và từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho chính quốc gia của mình. Ngoài việc học hỏi những kinh nghiệm, kết quả đã đạt được của Thái Lan, Việt Nam có thể học hỏi và tham khảo để tránh, loại bỏ những hạn chế mà Thái Lan đang gặp phải. Từ đó, phát huy những ưu điểm, khắc phục những nhược điểm và đưa ra một số bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận tại Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, nhóm tác giả chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo pháp luật của Thái Lan và bài học cho Việt Nam” để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế độ tài sản theo thỏa thuận giữa vợ và chồng là một trong những quy định mới mang tính hội nhập, hướng ngoại cao, thuận lợi cho phân định tài sản khi kết hôn nhưng nó vẫn còn tồn đọng những hạn chế vướng mắc cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Nhưng dù vậy, trong thời gian qua, vẫn có các công trình nghiên cứu liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận tại Việt Nam và một số nước trên thế giới.
Phải kể đến những công trình nghiên cứu bao gồm các luận văn của Thạc sĩ, Tiến sĩ trong nước và nước ngoài, những bài viết trên tạp chí khoa học và các trang web, điển hình là:
Trong nước:
Nhóm các Luận án, Luận văn:
- Chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tác giả Nguyễn Văn Cừ, Luận án Tiến sĩ Luật học năm 2005;
- Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và Gia đình Việt Nam, tác giả Lã Thị Tuyền, Luận văn thạc sĩ năm 2014, Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn đã phân tích những lí luận, nội dung về chế độ tài sản của vợ chồng, đồng thời đánh giá được thực trạng áp dụng quy định và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam;
- Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Việt Nam, Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung, Luận văn Thạc sĩ năm 2014, Đại học luật Hà Nội. Luận văn đã phân tích về hệ thống pháp luật của Việt Nam và cơ sở lý luận của chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, từ đó đưa ra ý kiến xây dựng và các quan điểm để hoàn thiện về chế định này;
Nhóm giáo trình, sách chuyên khảo: Trong nhóm này phải kể đến một số công trình tiêu biểu như:
- Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2008);
- Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ, 2004);
- Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Văn Cừ, Nxb Tư pháp, 2008);
Nhóm các bài viết trên báo, tạp chí:
- Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Cừ, đăng trên tạp chí Luật học số 4 năm 2015;
- Chế độ tài sản thỏa thuận trong pháp luật của một số nước và đề xuất cho Việt Nam, Tác giả Nguyễn Ngọc Điện – Đoàn Thị Phương Diệp, đăng trên Ấn phẩm Tạp Chí Nghiên cứu Lập pháp số 15 (319) tháng 8 năm 2016;
- Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng liên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam (Bùi Minh Hồng, 2009, Tạp chí Luật học, số 11)
Nước ngoài:
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trong nước, còn có những bài viết, công trình nghiên cứu phân tích, so sánh về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận của các tác giả nước ngoài, điển hình phải kể đến như:
- Les régimes matrimoniaux en droit comparé et en international privé, Genève, Andrea Bonomi – Marco Steiner (2006);
- Le R gime matrimonial l gal dans les l gislations contemporaines, Paris: Edition A. Pedone, 1974.777pp, Jean Patarin – Imre Zajtay (1974).
Có thể thấy từ các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã tiếp cận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận từ các góc độ khác nhau, song vẫn đưa đến cho người đọc những nội dung, những nguyên tắc cũng như các quy định thiết yếu để thiết lập một bản thỏa thuận góp phần đảm bảo quyền lợi cho bản thân trong các vấn đề liên quan đến tài sản vợ chồng.
Và với các công trình nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng, đặc biệt là ở Việt Nam, Pháp, Bỉ,… thì mặc dù cũng có một số công trình có đề cập đến chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận ở Thái Lan nhưng nó thường chỉ được đặt trên bình diện mở rộng, so sánh với Việt Nam, Pháp, Bỉ,… vậy nên việc nghiên cứu này chưa thật sự chuyên sâu; đa phần chỉ được phân tích một cách khái quát nhằm đặt lên bàn cân so sánh với Việt Nam và các nước trong các bài nghiên cứu chuyên sâu về chế định tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN
1.1. Sự hình thành và phát triển về chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật của Thái Lan
Trong khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là quốc gia duy nhất không bị chiếm làm thuộc địa của châu Âu. Tuy nhiên, trong thế kỉ XIX, Thái Lan đã ký kết nhiều hiệp định song phương với các nước phương Tây để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và phát triển quan hệ thương mại. Nhờ các hiệp định này, Thái Lan đã mở cửa thị trường cho các nước phương Tây và sự thay đổi về thương mại đã dẫn đến thay đổi xã hội và pháp luật.
Do đó, hệ thống pháp luật Thái Lan đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi pháp luật các nước phương Tây, đặc biệt là pháp luật của Châu Âu lục địa. Vào đầu thế kỉ XX, Thái Lan đã tiến hành cải cách hệ thống pháp luật và tư pháp theo triết lý pháp luật của Châu Âu, bao gồm tổ chức tòa án và tố tụng. Thái Lan đã chọn pháp luật của Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Ý và Nhật Bản làm mô hình cho việc xây dựng pháp luật của mình.
Các bộ luật của Thái Lan đã được ban hành theo mô hình pháp luật của các nước này, bao gồm BLDS và Luật Thương mại năm 1925. Những quy định của nó đã có hiệu lực thi hành trong hơn một thế kỷ và vẫn còn giá trị đến ngày nay. Quy định về Hội nghị Gia đình được ghi nhận tại Quyển 5 từ Điều 1435 đến Điều 1598 của Bộ luật.
Trong những năm gần đây, Thái Lan cũng đã thực hiện nhiều cải cách để cải thiện chế độ tài sản của vợ chồng, bao gồm việc thực hiện các chính sách khuyến khích vợ chồng ký kết thỏa thuận tài sản và tăng cường sự hiểu biết và nhận thức của người dân về chế độ tài sản của vợ chồng. Ngoài ra, các cơ quan chức năng cũng đã thực hiện nhiều nỗ lực để giải quyết các tranh chấp về tài sản của vợ chồng một cách công bằng và minh bạch hơn.
1.2. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
Về mặt định nghĩa, mọi chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận của các quốc gia trên thế giới đều được hiểu là sự thỏa thuận bằng văn bản về chế độ tài sản của vợ chồng được xác lập trên nguyên tắc tự do, tự nguyện trước hôn nhân. Nội dung của văn bản thỏa thuận do vợ, chồng bàn bạc, thương lượng, thống nhất với nhau về vấn đề tài sản trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm các căn cứ xác định tài sản; quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; và các trường hợp cũng như quy định về chia tài sản giữa vợ và chồng. Sau khi xác lập, thỏa thuận này là căn cứ pháp lý để quy định quyền, nghĩa vụ đối với tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ có các tên gọi, quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận khác nhau.
Đặc điểm:
Dù ở quốc gia nào, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận đều có một số các đặc điểm cốt lõi sau:
Thứ nhất, chủ thể trong quan hệ sở hữu này trước hết phải có đầy đủ năng lực chủ thể và các chủ thể phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với nhau. Đối với sự thỏa thuận tài sản này, hai bên nam – nữ phải lập văn bản thỏa thuận trước khi kết hôn và chỉ khi họ kết hôn với nhau thì văn bản này mới chính thức công nhận quyền sở hữu tài sản của vợ chồng đã định trước đó.
Thứ hai, những quy định của pháp luật về chế độ tài sản theo thỏa thuận được đưa ra với mục đích bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ và chồng; đồng thời là cơ sở để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản của vợ chồng.
Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào sự phát sinh, chấm dứt của quan hệ hôn nhân hay nói cách khác, chế độ tài sản của vợ chồng thường chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân.
1.3. Ý nghĩa chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
Việc thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận đã đảm bảo được quyền lợi trong việc tự định đoạt tài sản của mỗi chủ thể, giúp cho chủ thể tự do trong kinh doanh, vợ chồng sẽ chủ động hơn trong tài sản của mình và có nhiều cơ hội hơn để phát triển sự nghiệp. Ngoài ra, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận cũng bảo vệ vợ/chồng khỏi các khoản nợ tiền hôn nhân của người phối ngẫu; đảm bảo con cái của cuộc hôn nhân hoặc các mối quan hệ trước được hỗ trợ tài chính. Việc này sẽ giúp vợ chồng tránh gặp các mâu thuẫn không đáng có đối với tài sản cá nhân của nhau. Việc cụ thể và rạch ròi trong tài sản sẽ đảm bảo được độ tin cậy lẫn nhau giữa vợ và chồng…
