THÔNG TIN TIỂU LUẬN
- Trường: Đại học Luật Hà Nội
- Định dạng: WORD
- Số trang: 32 trang (cả bìa)
- Năm: 2024 / Mã số: B0013.
- Pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015.
XEM TRƯỚC NỘI DUNG

MỤC LỤC TIỂU LUẬN
| MỤC LỤC | Trang |
|---|---|
| DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT | |
| LỜI MỞ ĐẦU | 1 |
| 1. Lý do lựa chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu | 1 |
| 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước | 2 |
| CHƯƠNG 1: CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN THEO PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC | 3 |
| 1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của chế độ tài sản của vợ chồng tại Trung Quốc | 3 |
| 1.2. Khái niệm và phân loại chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật Trung Quốc | 4 |
| 1.2.1. Khái niệm | 4 |
| 1.2.2. Phân loại chế độ tài sản | 4 |
| 1.3. Chế độ tài sản của vợ chồng Trung Quốc | 5 |
| 1.3.1. Quy định chế độ tài sản | 5 |
| 1.3.2. Các điểm mới của Luật hôn nhân gia đình Trung Quốc năm 2020 | 7 |
| 1.4. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng Trung Quốc | 9 |
| 1.4.1. Căn cứ pháp lý | 9 |
| 1.4.2. Đặc điểm thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Trung Quốc | 9 |
| CHƯƠNG 2: SO SÁNH CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRUNG QUỐC VỚI VIỆT NAM | 11 |
| 2.1. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo pháp luật ở Việt Nam | 11 |
| 2.1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng | 11 |
| 2.1.2. Nội dung các loại chế độ tài sản của vợ chồng | 12 |
| 2.1.3. Ưu và nhược điểm của chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng | 12 |
| 2.2. Những điểm tương đồng giữa chế độ tài sản của vợ chồng hai quốc gia | 14 |
| 2.2.1. Về mặt hình thức | 14 |
| 2.2.2. Về chế độ tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng | 15 |
| 2.3. Những điểm khác biệt giữa chế độ tài sản của vợ chồng hai quốc gia | 17 |
| CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM | 20 |
| 3.1. Những ưu điểm và hạn chế của chế độ tài sản của vợ chồng Trung Quốc | 20 |
| 3.1.1. Ưu điểm | 20 |
| 3.1.2. Nhược điểm | 20 |
| 3.2. Đề xuất một số giải pháp cải cách chế độ tài sản của vợ chồng Việt Nam | 22 |
| KẾT LUẬN | 25 |
| TÀI LIỆU THAM KHẢO | 27 |
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu
Chế độ tài sản theo thỏa thuận hiện nay đã không còn mới lạ với nhiều quốc gia trên thế giới và đã tồn tại từ lâu. Ở các quốc gia phát triển đều tồn tại hai chế độ tài sản của vợ chồng đó là chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định. Với Trung Quốc, trước đây không có quy định chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận, thì nay đã công nhận chế độ này. Ở Việt Nam, chế độ tài sản này được quy định như một điểm mới rất tiến bộ trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tồn tại song song cùng với chế độ tài sản theo luật định được áp dụng khi vợ chồng không xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận.
Với việc đón nhận và áp dụng những cải cách pháp lý trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo pháp luật của Trung Quốc đã có nhiều thay đổi trong thời gian gần đây. Trong tiểu luận này, với đề tài “Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo pháp luật của Trung Quốc và bài học cho Việt Nam” nhóm chúng em sẽ tập trung làm rõ về các quy định trong chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo pháp luật Trung Quốc. Qua đó phân tích những điểm mới trong bộ Luật Hôn nhân gia đình Trung Quốc 2020, nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan, thảo luận về những thách thức và vấn đề mà chế độ tài sản của vợ chồng Trung Quốc đang gặp phải. Từ đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng Việt Nam, nhằm xây dựng một chế độ hôn nhân bình đẳng, công bằng và tự nguyện, bảo vệ quyền lợi giữa các bên. Thông qua việc nghiên cứu đề tài nhóm chúng em mong muốn mang đến cho những người chưa và sẽ bước vào cuộc sống hôn nhân những kiến thức và hiểu biết cần thiết về quyền lợi, nghĩa vụ của mình khi quyết định lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận hay là theo luật định và đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật, nhằm góp phần thực hiện pháp luật, xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc, bền vững.
2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước
Trong thời gian qua, trên thế giới đã có nhiều đề tài nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận nói chung. Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu về quan điểm lập pháp của các nước khi xây dựng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận so sánh với quan điểm lập pháp của Việt Nam, từ đó kiến nghị hoàn thiện còn chưa thực sự nhiều.
Các đề tài nghiên cứu liên quan điển hình như:
– Ths. Bùi Minh Hồng, Đại học Luật Hà Nội (2009), Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng liên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật học số 1.
– Nguyễn Thị Thu Thủy (2015), Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo Luật HN&GĐ Việt Nam 2014. Luận văn do Ths. Bùi Minh Hồng hướng dẫn, đã đem đến cái nhìn khái quát về các vấn đề của chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, từ điều kiện, nội dung, lịch sử hình thành và phát triển và so sánh với chế độ tài sản nói chung, chế độ tài sản theo thỏa thuận nói riêng ở một số nước khác.
– Trương Thị Lan (2016), Chế độ tài sản pháp định theo Luật HN&GĐ năm 2014. Đề tài khái quát về chế độ tài sản vợ chồng pháp định trong pháp luật Việt Nam và đánh giá thực tiễn áp dụng từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện.
– Jean PATARIN và Imre ZAJ TAY, Chế độ tài sản của vợ chồng trong những pháp luật đương đại, 1974, page 20-21. Cuốn sách này tập hợp 40 bài viết của các tác giả đến từ 40 nước, đại diện cho các châu lục, về chế độ tài sản của vợ chồng.
CHƯƠNG 1: CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO
THỎA THUẬN THEO PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC
1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của chế độ tài sản của vợ chồng tại Trung Quốc
Trung Quốc (tên chính thức là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) là một quốc gia thuộc khu vực Đông Á, theo chế độ Xã hội chủ nghĩa song lại chuyên chế và xã đoàn với những hạn chế nghiêm ngặt trong nhiều lĩnh vực. Chế độ tài sản của vợ chồng tại Trung Quốc đã trải qua nhiều thay đổi lớn trong suốt lịch sử phát triển của đất nước này.
Trung Quốc thời kỳ cổ đại, tài sản vợ chồng được xem là tài sản chung, song chế độ tài sản chung đã bị thay đổi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong thời kỳ đầu nước Cộng hòa Trung Hoa. Chế độ tài sản riêng được thiết lập, trong đó mỗi vợ chồng giữ tài sản riêng của mình và chỉ chia sẻ tài sản chung khi họ đồng ý hoặc khi một trong hai người qua đời. Trong những năm 1950 và 1960, chế độ tài sản chung trở lại được áp dụng để đảm bảo sự công bằng giữa các gia đình và tránh những xung đột trong vấn đề tài sản khi ly dị.
Từ những năm 1980 trở đi, với sự phát triển của kinh tế thị trường và các quy định pháp luật mới, chế độ tài sản riêng lại trở nên phổ biến hơn. Các vợ chồng có thể thỏa thuận chế độ tài sản của mình để bảo vệ quyền lợi của mình, tuy nhiên, chế độ tài sản chung vẫn được áp dụng là chế độ mặc định khi không có thỏa thuận nào được thực hiện.
Năm 2001 Luật hôn nhân ra đời và đã bổ sung quy định liên quan đến tiền hôn nhân hay hôn ước. Đến bộ Luật Hôn nhân và gia đình 2020, Trung Quốc đã cho phép các vợ chồng tự do thỏa thuận về chế độ tài sản của mình, tuy nhiên, việc thỏa thuận này phải tuân thủ các quy định của pháp luật và được đăng ký với cơ quan đăng ký tài sản theo quy định của pháp luật.
Từ lịch sử phát triển, ta có thể thấy rõ sự tiến bộ của pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi và sự bình đẳng giới cho các vợ chồng. Từ việc không có quyền thừa kế và quản lý tài sản, đến việc công nhận tài sản chung và phân chia đều khi ly hôn, đến hiện nay cho phép tự do thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng. Điều này cho thấy sự phát triển của Trung Quốc trong việc bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là quyền lợi của phụ nữ trong vấn đề tài sản và gia đình.
1.2. Khái niệm và phân loại chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật Trung Quốc
1.2.1. Khái niệm
Trước khi ban hành Luật hôn nhân 2001, hôn ước không được công nhận ở Trung Quốc. Năm 2001, Luật hôn nhân Trung Quốc đã sửa đổi, bổ sung quy định mới liên quan đến tiền hôn nhân hay hôn ước, cùng với đó, pháp luật Trung Quốc đưa ra khái niệm về chế độ tài sản vợ chồng. Cụ thể như sau: Chế độ tài sản vợ chồng thuộc hệ thống pháp luật của một quốc gia liên quan đến quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ, chồng; ngoài ra còn liên quan đến quyền sở hữu, quản lý, sử dụng, thu nhập, định đoạt và giải quyết nợ nần, phân chia tài sản khi hôn nhân chấm dứt,… còn được gọi là “hệ thống tài sản hôn nhân”[1]. Hệ thống tài sản hôn nhân được áp dụng bởi một quốc gia nhất định không chỉ chịu ảnh hưởng của truyền thống lập pháp, phong tục và các yếu tố văn hóa của quốc gia đó, mà còn liên quan chặt chẽ đến sự phát triển xã hội, sự thay đổi cấu trúc gia đình và thậm chí cả sự độc lập kinh tế của vợ và chồng. Trên cơ sở này, chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật của Trung Quốc cũng được phát triển dựa trên trình độ phát triển kinh tế và quá trình phát triển lịch sử, đồng thời có sự học hỏi kinh nghiệm từ nước ngoài.
1.2.2. Phân loại chế độ tài sản
Tại mỗi quốc gia, các nhà làm luật đều lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng phù hợp với điều kiện kinh tế, truyền thống, tập quán và nguyện vọng của các cặp vợ chồng. Trong đó thể hiện rõ ý chí của nhà nước khi điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa vợ và chồng bởi tổng hợp các quy phạm do nhà nước ban hành điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng phản ánh điều kiện vật chất của xã hội đó, bảo đảm phù hợp với lợi ích, ý chí của giai cấp thống trị xã hội. Pháp luật Trung Quốc đã quy định có hai loại chế độ tài sản của vợ chồng, đó là:
– Chế độ tài sản theo quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định): Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ, nguồn gốc thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan đến các khoản nợ chung hay riêng của vợ chồng. Chế độ tài sản này tất cả được dữ liệu trong hệ thống pháp luật của nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng.
– Chế độ tài sản theo sự thỏa thuận của vợ chồng (chế độ tài sản ước định): Theo quan điểm thuần túy pháp lý của các nhà làm luật tư sản, hôn nhân thực chất là một hợp đồng, một khế ước do hai bên nam nữ thảo thuận, xác lập trên nguyên tắc tự do, tự nguyện. Các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được phát sinh và thực hiện trong thời kỳ hôn nhân cũng giống như các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đó. Vì vậy, pháp luật cho phép trước khi kết hôn, hai bên được quyền tự do ký kết hôn ước (hay còn gọi là khế ước) miễn sao không trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.
1.3. Chế độ tài sản của vợ chồng Trung Quốc
1.3.1. Quy định chế độ tài sản
Điều 1062, 1063, 1064, 1065, 1066 tại Bộ luật Dân sự Trung Quốc năm 2020 có quy định về chế độ tài sản của vợ chồng:
“Điều 1062. Những tài sản sau đây mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung và thuộc sở hữu chung của vợ chồng:
(1) tiền lương và tiền công cũng như tiền thưởng và các khoản thù lao khác nhận được từ các dịch vụ cung cấp;
(2) tiền thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư;
(3) tiền thu được từ quyền sở hữu trí tuệ;
(4) trừ trường hợp có quy định khác tại Đoạn (3) Điều 1063 của Bộ luật này, tài sản có được từ thừa kế hoặc được tặng cho; và
(5) tài sản khác thuộc sở hữu chung của vợ chồng.
Vợ, chồng có quyền ngang nhau khi định đoạt tài sản của cộng đồng. Điều 1063. Tài sản sau đây là tài sản riêng của một trong hai vợ chồng:
(1) tài sản trước hôn nhân của một bên vợ hoặc chồng;
(2) tiền bồi thường hoặc tiền bồi thường mà một bên vợ / chồng nhận được vì thương tích gây ra cho anh / cô ta;
(3) tài sản chỉ thuộc về một bên vợ / chồng được quy định trong hợp đồng di chúc hoặc tặng cho;
(4) các vật phẩm do một bên vợ hoặc chồng sử dụng riêng cho cuộc sống hàng ngày; và
(5) tài sản khác thuộc sở hữu của một bên vợ / chồng.
Điều 1064. Các khoản nợ phát sinh theo ý định chung của cả hai vợ chồng, chẳng hạn như khoản nợ do cả hai vợ chồng cùng ký và khoản nợ do một bên vợ / chồng ký và sau đó được vợ / chồng kia phê chuẩn, và các khoản nợ do một trong hai người vợ hoặc chồng phải chịu. tên trong thời kỳ hôn nhân để đáp ứng nhu cầu hàng ngày của gia đình, tạo thành nợ cộng đồng.
Khoản nợ do một trong hai vợ chồng nhân danh mình trong thời kỳ hôn nhân vượt quá nhu cầu sinh hoạt của gia đình không phải là nợ cộng đồng, trừ trường hợp chủ nợ chứng minh được rằng khoản nợ đó được sử dụng cho cuộc sống hàng ngày của cả hai vợ chồng hoặc để sản xuất chung. và hoạt động của vợ hoặc chồng, hoặc khoản nợ đó phát sinh theo ý định chung của cả hai vợ chồng.
Điều 1065. Nam và nữ có thể thỏa thuận rằng tài sản trước hôn nhân của họ và tài sản mà họ có được trong thời kỳ hôn nhân của họ có thể thuộc sở hữu riêng hoặc chung, hoặc sở hữu riêng một phần và sở hữu chung một phần. Thỏa thuận sẽ được lập thành văn bản. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng Điều 1062 và 1063 của Bộ luật này
[1] Baidu (2022), Hệ thống tài sản hôn nhân, https://baike.baidu.com/item/%E5%A4%AB%E5%A6%BB%E8%B4%A2%E4%BA%A7%E5%88%B6/8167350#r eference-[1]-448296-wrap, truy cập ngày: 08/01/2024.
